ĐỨC THÁNH TRẦN
Thạch
Hà Vơ Sum
(Phiếm Luận)
Lúc nhỏ tôi chỉ thường
được nghe nói đến Đức Thánh Trần, chứ
tuyệt nhiên trong gia đ́nh, cha mẹ tôi không bao giờ
dùng danh xưng Trần Hưng Đạo. Bởi v́ đó là một
phong tục người xưa rất kiêng; cho là vô lễ
đối với những bậc tiền bối khả
kính.
Dạo ấy cha tôi đổi lên miền
Thượng du, làm Quản Đạo (Tỉnh Trưởng) tỉnh
Kontum. Cả tỉnh có mười làng, mà hết tám làng theo
Thiên Chúa giáo. C̣n lại hai làng Phật giáo, nhưng chưa
có nơi thờ tự. Việc đầu tiên cha tôi làm, là
đôn đốc xây dựng một ngôi Chùa. Điều đặc
biệt là hồi ấy, cách đây năm mươi
năm, chưa ai ấn định sự thống nhất
trang trí và thờ phụng tại các Chùa, cho nên "mạnh
ai có ǵ th́ mang ra trưng bày" và việc thờ tự cúng
kính thật là đa dạng .
Trong ngôi Chùa nhỏ ấy, được
sắc tứ của Hoàng triều ban tên là Bác Ái tự.
Trong Chùa thờ phượng ngoài các pho tượng Phật
và các Long thần Hộ Pháp, Tiêu diện, lại có cả Đức
Quan Thánh, Thánh Mẫu Thượng ngàn Thiên-Y-A-Na, và Đức
Thánh Trần nữa.
Tôi nhớ dạo ấy, người
ta đi Chùa không những để lễ Phật, mà phần
đông c̣n để xin xăm Ông (tức là Đức Quan
Thánh) và xin trừ tà (chữa bệnh điên), tại bàn thờ
Đức Thánh Trần nữa.
Bây giờ với sự thống nhất
của Giáo Hội Phật giáo, các Chùa Việt Nam chỉ thờ
Phật, hay nói cho đúng hơn, là thờ các đức Phật
của tất cả các thời gian.
Các vị Thánh được thờ
trong các Điện, hoặc Đền. Tại các nơi thờ
Thánh, nhất là Thánh Mẫu Thiên Y, hay Thánh Trần; các Bà và
các Cô thường hay lên "đồng", có cung văn
phụ họa nhạc đệm, nghe rất hấp dẫn,
vui tai. Nếu tại Mỹ mà có nhiều Đền, Điện
"chầu văn" và "hầu đồng" th́ chắc
dễ phát triễn hơn các Chùa thờ Phật.
Việc tách riêng Phật và Thánh như vậy
thật đúng. Bởi v́ Phật th́ từ bi, hỷ xả,mục
đích d́u dắt chúng sanh ra khỏi ṿng luân hồi, đau
khổ, nhưng ai muốn theo th́ theo, không bắt buộc.
Phật Tử đến Chùa để tu tâm, tịnh độ,
sám hối tội lỗi, chứ không phải để van
xin, cầu nguyện dành sự tốt đẹp về cho
bản thân ḿnh và gia đ́nh ḿnh.
Thánh khác Phật ở chỗ Thánh là những
bậc vĩ nhân, cũng có độ lượng, bác ái,
nhưng không phải là kẻ xuất gia giữ giới.
Những vị Tướng lỗi lạc hiễn hách chắc
chắn phải "tàn sát" rất nhiều ngoài trận
mạc, nếu không th́ làm sao có câu "Nhất tướng
công thành vạn cốt khô".
Như vậy th́ những vị Tướng hiễn
Thánh như Quan Công hay Trần Hưng Đạo đều
đă phạm giới "sát sanh", một trọng giới
mà mọi Phật tử tại gia hay xuất gia phải giữ.
Mặc dầu sau khi hiển Thánh và được người
đời tôn thờ, các vị Thánh cũng không thể thuộc
vào hàng Bồ Tát, và cũng không bao giờ thành Phật
được.
Thánh không dữ như người
đời thường rủa nhau "Trời đánh
Thánh vật". Thật ra Thánh có phạt, hay là la rầy,
nếu chúng ta "vô lễ", hay là "thất lời hứa".
Đối với Phật, hay Chúa, bổn
đạo "thất lời hứa" là thường,
không bao giờ có sự Phật phạt, hay Chúa phạt. Biết
bao nhiêu người vượt biên, trong khi khốn khổ
th́ kêu cứu van xin và hứa nguyện với Chúa, Phật
đủ điều, nhưng khi đến đất liền,
nhất là đến "đất hứa" rồi th́
măi lo t́m "job thơm", lo "oen-phe" , không c̣n
nghĩ ǵ đến Chúa, đến Phật nữa. Th́ giờ
nhàn rỗi cuối tuần c̣n dành để
"ăn-doi" (enjoy) và "ŕ-lắc"(relax) tại
vũ trường hay pḥng trà ca nhạc.
Nhưng nếu đă hứa với
Thánh th́ phải cẩn thận. Thánh có nhiều cấp
dưới Thánh, có Thần. Người đời thường
nói chung "Thần Thánh" cho nên hay hiểu lầm và
đổ lỗi "oan". Theo tôi nghĩ th́ các bậc
Thánh như Trần Hưng Đạo, Quan Công, Quang Trung,... không
hay bắt bẻ, chấp nê, nếu chúng ta có phạm lỗi
lầm sơ suất nhỏ nhặt. Nhưng đối
với các vị Thần ở cấp nhỏ th́ nên cẩn
thận hơn.
Thần cấp nhỏ thường trú
nhậm tại các miều, đ́nh. Tục ngữ
ta có câu: "Chớ thấy miễu rách mà khinh, Miễu rách
mặc miễu, thần linh hăy c̣n".
Ông Cụ tôi kể chuyện lúc c̣n hàn
vi, ông đang làm thông phán tại toà Khâm sứ Huế. Một
hôm cỡi ngựa về thăm làng quê, đi ngang qua
đồng Hương Thủy, gần trưa nắng gắt,
thấy bên đường có một cây cổ thụ bóng
mát, ông ghé vào cho cả người lẫn ngựa nghỉ
ngơi.
Thấy cái miễu nhỏ đổ nát, ông thầm
khấn nguyện: " Thần linh thiêng xin hăy phù hộ cho
tôi ăn nên làm ra, công thành danh toại, th́ tôi sẽ không quên
ơn...".
Hai mươi năm sau,
lúc ông đổi đi làm Tỉnh Trưởng, nghĩa là
cải ngạch thư kư ngành Băo Hộ để qua Nam Triều
làm việc với nhà Nguyễn, th́ một đêm ông nằm
chiêm bao thấy một vị "Thần" đến
nhắc nhở:
- " Lúc xưa hàn vi ông có khấn
nguyện những ǵ...sao nay ông quên lời...".
Ông Cụ tôi toát mồ
hôi, v́ ông c̣n nhớ rơ lắm, nhưng không ngờ " Thần" rất coi trọng
lời thệ nguyện. Thế là ông giao công tác cho bà Cụ,
Bà phải sắm lễ vật lên đường t́m về vùng cũ để tạ
ơn và cáo lỗi.
Bà Cụ tôi về đến nơi nhưng không làm
sao t́m ra được đúng chốn cũ ; v́ cảnh vật
đổi dời sau bao nhiêu năm xa cách. Bà đă dừng
bên đường, bày lễ vật ra cúng tế và khấn
nguyện rất chân thành, trang trọng. Từ đấy
câu chuyện xem như chấm dứt v́ lương tâm ông Cụ
tôi không c̣n bị cắn rứt nữa.
Thần cấp nhỏ hay nhận lời
giúp đỡ, và một khi khấn nguyện th́ bạn phải
giữ đúng lời hứa. Nhưng dù sao khi bạn
"chơi chữ" trong giao kèo để nắm
phần lợi về ḿnh, "Thần" cũng chỉ
đành chịu cười thua.
Chuyện kể rằng:
Có chàng lái buôn, v́ công việc phải cỡi ngựa đi
băng qua rừng và bị lạc đường trong khi
trời giông tố băo bùng, mưa to gió lớn. Anh lái buôn mới
khấn với Thần linh giữa rừng rằng:
“Xin Chư vị Thần linh cứu tôi ra khỏi rừng
già . Sau khi tai qua nạn khỏi, về được
đến nhà yên ổn, tôi sẽ bán con ngựa nầy
để cúng tạ Thần linh."
Chừng một giờ đồng hồ sau đó,
trời quang đăng dần và anh chàng cũng t́m được
về đến nhà. Sáng hôm sau anh ta giữ lời hứa
rao bán:
"Một con gà và con ngựa,
giá tổng cộng là 90 đồng. Con gà giá riêng là 89 đồng
và con ngựa giá 1 đồng. Ai muốn mua phải mua cả
cặp gà và ngựa".
Dù giá tiền có vẻ kỳ quái nhưng tính chung lại
th́ hợp lư nên có người mua ngay. Và anh ta lấy số
tiền bán con ngựa 1 đồng
để sắm lễ vật tạ Thần. Lương tâm anh ta không cắn rứt,
nhưng chắc Thần không vui ḷng trứơc sự thông
minh vặt ấy.
Các bậc Thánh lớn như Đức
Thánh Trần Hưng Đạo, đă đuợc Hải Quân Việt
Nam tôn kính chọn làm Thánh Tổ, chắc chắn phải ngự
trị tại một vùng "Trời", hay là một
" Thiên hà" riêng biệt trong không gian vũ trụ.
Các Ngài không phát những lời đại nguyện rơ
rệt như các vị Bồ Tát trước khi thành Phật,
nhưng các Ngài c̣n nặng vướng cảm t́nh với thế
giới ta bà, với nhân loại đau khổ, cho nên các
Ngài rất sẵn sàng đáp ứng những lời cầu
nguyện van xin và sẵn sàng cứu giúp trong mọi trường
hợp.
V́ tính cách riêng biệt như thế cho
nên các vị hiễn Thánh thường được tất
cả các tôn giáo sùng kính, không có sự phân cách chia rẽ hay
kỳ thị. Bằng chứng cụ thể là một
Hạm Trưởng có thể thuộc Thiên Chúa giáo; khi làm Lễ
Khánh thành Chiến Hạm, linh mục Tuyên Uư được
mời đến ban phép lành .
Hoặc Hạm Trưởng
thuộc Phật giáo, có Đại Đức Tuyên uư Hải Quân
đến làm lễ cầu an, truớc giờ phút "
đập vỡ đầu" chai sâm-banh. Nhưng Hạm Trưởng nào
cũng cầu nguyện chung một vị Thánh tổ là Đức
Trần Hưng Đạo, mỗi lần gặp nguy biến
trong khi hăỉ hành ngoài xa khơi mù mịt.
Chúa hay Phật, hay bất cứ một
vị Giáo chủ của một Tôn giáo đứng đắn
nào trên thế giới, đều là những vị đă
"thành tựu", đă đạt được chánh
quả, và việc cứu nhân độ thế của họ
nhằm vào đại sự. Các bậc Thánh, trái lại,
phần nhiều khi chết vẫn chưa toại ư nguyện
quá lớn lao của họ lúc c̣n sống. Anh linh hiễn
hách của họ c̣n vương vấn, thiết tha với
cơi trần, và họ c̣n muốn tiếp tục đóng góp
thêm nhiều nữa với trần thế .
Đọc đến đây có bạn sẽ hỏi:
-"Rơ khéo bày đặt, Thánh tổ để làm ǵ và có
ích lợi ǵ?".
Nếu người hỏi thuộc về phái "vô
thần", nghĩa là vô Tôn giáo th́ thôi, xin miễn trả
lời. Nhưng nếu người hỏi có
được một Tôn giáo gốc chính chắn, đàng
hoàng, th́ sự ích lới của vị Thánh tổ là ở
vai tṛ đoàn kết, tôn giáo, san bằng các sự dị biệt,
kỳ thị v́ tôn giáo.
Và như trên tôi đă đề cập, vị Thánh tổ gần
với chúng ta hơn, để đáp ứng mọi sự
nguyện cầu khẩn trương mà Chúa và Phật không
cứu xét trực tiếp.
Các cụ xưa có nói "Linh tại
ngă, bất linh tại ngă" (Việc linh thiêng có hay không là
cũng tại nơi ḿnh tin hay không tin". Kẻ không
có đức tin hay là không biết tin, không hẳn là những
kẻ "vô thần", và cũng không phải là những
kẻ tinh thần luôn luôn mạnh mẽ.
Đức tin do truyền thống
và giáo dục gia đ́nh gieo vào con người từ thuở
nhỏ. Lúc trưởng thành, với lư trí và phán đoán,
chúng ta loại bỏ những sự mê tín dị đoan ,
chỉ giữ lại tinh hoa của niềm tin.
Người có đức tin có đời sống tâm linh
phong phú, ngoại-cảm giác quan bén nhạy, trực-giác và
linh tính dồi dào . Biết sống với nội tâm, hợp
với mọi hoàn cảnh, không thấy đau khổ; v́ chấp
nhận mọi khổ đau chỉ là một ‘vô thường”
trong cảnh giới vô thường mà thôi !
Đối với người có đức
tin, th́ Đức Thánh Trần vẫn là Đức Thánh Trần, ngự
trị nơi cơi "Thiên hà" xa lắc. Nhưng h́nh ảnh
Ngài đă in sâu vào tiềm thức họ như một v́
sao sáng, một ngọn Hải đăng. Khi cần thiết,
họ chỉ định tâm ḥa ḿnh vào thế giới tâm
linh ,là gặp ngay ánh sáng ngọn Hải đăng đă
trang bị sẵn trong tiềm thức hướng dẫn vào cảnh giới an lạc ....
Thạch Hà