(Trích trong tuyển tập Mây Tần)
Ông Hải thức dậy lúc 9 giờ sáng, ngày nào đúng
giờ ấy, nắng cũng như mưa. Đáng lẽ
ông c̣n ngủ nữa, nhưng tiếng hát của ai ở
pḥng tắm bên cạnh, lẫn tiếng nước
chảy rào rào, làm mất yên tĩnh buổi sáng, mất
giấc ngủ nướng của ông. Ông Hải rất
ghét mấy anh chàng lúc nào khác không hát, chỉ đợi vào
buồng tắm mới hát, ư hẳn hát dở quá, không dám
để ai nghe, phải đợi có tiếng nước
chảy át đi, “ ca sĩ” mới dám mở miệng.
Ngủ không được nữa, ông dậy thay áo
để đi ăn sáng. Bắt đầu cuộc
sống “Một ngày như mọi ngày” như lời ca
sĩ diễn tả.
Ông Hải đă sống ở đây gần ba muơi
năm nay, từ ngày cái phố Tàu của Cựu Kim Sơn
c̣n thưa thớt vắng vẻ, cho đến bây giờ
nhà cửa sát vách nhau, chen lấn chồng chất lên nhau,
cả đến không khí cũng có vẻ khan hiếm.
Một đám đông ngồi gần nhau tưởng
như ḿnh hít vào cái hơi của anh chàng bên cạnh vừa
thở ra. Thế nhưng ông không muốn dời đi
đâu hết. Thành phố này bây giờ là quê hương
làng xóm, căn pḥng trọ là nhà của ông, những
người bán rau quả, các tiệm đồ chơi,
đồ ăn, các chủ pḥng trà, khách sạn, ông
đều quen mặt biết tiếng hết. Trừ
một ít du khách qua lại, những người sống
lẩn quẩn ở Phố Tàu nhiều năm như ông có
thể gọi tên nhau thân mật như bà con.
Cùng một lứa với ông, có những ông già bạn thân khác.
Những A Ẉng, A Lỵ, A Txần, A Yuun, mỗi ngày gặp
mặt nhau nói chuyện gẫu. Nơi hội họp
của các ông là pḥng đợi của bất cứ khách
sạn Tàu nào. Những khách sạn này phần nhiều
mở cửa suốt ngày đêm. Ở pḥng đợi ngay
từng dưới, ngoài vài thứ báo hằng ngày, c̣n có
cả Ti vi cho mọi người xem. Các ông cứ
đến ngồi đấy đọc báo, hết ngày này
qua ngày khác, hết tháng này qua tháng khác. Sau khi nghiến
đến tả tơi báo của một khách sạn rồi,
để thay đổi cảnh vật, các ông kéo nhau
đến một nơi mới mở xem có ǵ lạ không.
Lắm lúc chán báo các ông ngồi xem tướng tất
cả những ai qua lại trên đường. Có
người vội vàng, có người chậm răi, có
người đầy vẻ lo âu, có người vui
vẻ thỏa măn trào ra trên khóe mắt, nụ cười .
. . Các ông xem tướng giầu sang, tướng vất
vả rồi đánh cuộc với nhau, đếm xem có bao
nhiêu bộ mặt quen . . .
Các vũ nữ thoát y, các nữ chiêu đăi đồng
phục bikini, các diễn viên “ một mảnh”, “nửa
mảnh” của thành phố Tàu ban đêm, dưới ánh
mặt trời, các cô nương này cũng qua lại trên
đường phố , cũng đi chợ mua rau mua cá
về nấu cơm cho gia đ́nh, trông họ lương
thiện và quen thuộc như những bà vợ hiền.
Các ông ngồi đếm hết người lạ
đến người quen không hề chán. Những hôm
trời mưa, các ông chơi tṛ đánh cuộc xem ngoài
cửa sổ có bao nhiêu giọt mưa rơi thẳng và bao
nhiêu giọt rơi vương vào cửa kính.
Các ông cần cái phố Tàu này để làm quê hương,
cũng như phố Tàu cần có các ông để làm
cảnh vậy. Ông tưởng tượng giá phố Tàu
không có các hàng hoa quả rau cải bày lan ra trên vĩa hè
như các đường phố bên Tàu, cũng như không
có những ông già rảnh việc như các ông, mũ ni che
kín tai kẻo sợ gió, hai tay ủ vào nhau, bàn tay này
thọc vào tay áo kia, đi thơ thẩn hết phố này
sang phố khác, ngồi đọc báo hết pḥng này
đến pḥng khác, đi uống trà hết tiệm trà này
đến tiệm trà khác. Tất cả đều rất
quan trọng, nếu thiếu bất cứ một thứ
th́ c̣n ǵ là phố Tàu nữa!
Ngày xưa, đă có một dạo, ông luôn luôn mơ
ước ngày về nước, nhưng bây giờ . . .
hết rồi. Ông cúi nhận số phận, ngao ngán
đến nỗi không c̣n muốn thở nữa! Lắm
lúc ông Hải cũng thấy nhớ quê hương một
cách lạ lùng. Những lúc ấy, ông vội vàng mặc áo
khoác, chống gậy đi t́m mấy ông bạn già,
để khỏi ch́m đắm trong nhớ nhung.
Quê ông Hải ở một làng nhỏ thuộc tỉnh Hàng
Châu, nơi nổi tiếng gấm vóc, tơ lụa
đẹp nhất nước Tàu, nơi có phong cảnh
tuyệt vời như tranh vẽ, nơi có cái hồ to hai
bờ trồng toàn liễu rũ, trong hồ hàng trăm du
thuyền, bên hồ người dạo cảnh đông
như hội, mộ thi sĩ Tô Đông Pha nằm ngay bên
cạnh, tăng thêm giá trị lịch sử. Hồ là
nơi gặp gỡ của giai nhân tài tử, nơi
thề hẹn của những đôi t́nh nhân, nơi
giải trí của cả gia đ́nh, nơi thu hút du khách
từ ngh́n dặm xa xôi . . . Một nơi như thế, mà
ông phải rời bỏ từ gần ba mươi năm
nay rồi !
Người Tàu rất chịu khó đi làm ăn xa và giúp
đỡ lẫn nhau. Nếu công việc khá hơn, th́ dù có
phải đến một nơi non cao nước
độc, khỉ ho c̣ gáy, họ cũng không từ
chối. Nếu thấy người bản xứ chất
phác luơng thiện, buôn bán có lời, là họ chịu khó
đem bà con bạn bè đến lập nghiệp ngay.
Ba mươi năm trước, ông theo một số
bạn bè đến Cựu Kim Sơn mở tiệm ăn.
Ông ra đi với giấc mộng sẽ trở về
với một túi vàng cho vợ con sung sướng. Nhưng
ông không ngờ là có những giấc mơ chỉ
để mà mơ thôi.
Ở Mỹ được vài năm, Trung Hoa đổi
chủ. Đối với ông, nước Tàu vẫn c̣n
đó là được, chính thể nào, ông không cần
biết. Ông tưởng cứ lo làm việc để dành
tiền, th́ một ngày kia, nếu ông không về, vợ con
ông sang Mỹ cũng vui. Ông đă bảo vợ ông nhiều
lần nhưng bà không chịu đi, nhất định
xin ông để bà ở lại lo tậu ruộng
đất, sửa sang nhà cửa, xây lăng đắp mă
thay cho ông. Ông muốn dưỡng già và chết ở quê
hương nên tin bà, tháng tháng làm được bao nhiêu
đều nộp cho bà hết. Những số tiền này,
ông nhờ một ngân hàng trung gian tại Hongkong chuyển.
Thỉnh thoảng họ đưa tin giúp ông. Ông muốn
về nước, nhưng vợ ông cũng không chịu,
một hai bắt ông ở Mỹ, cứ cố kiếm
thực nhiều tiền gửi về đều
đều mà thôi.
Ông sống sung sướng với giấc mơ hồi
hương đoàn tụ gia đ́nh vợ con, cho
đến khi một người bạn thân từ lục
địa trốn ra được HongKong cho biết
sự thực: vợ ông đă thành một cán bộ xă, và
với số tiền ông gửi về hàng tháng suốt bao
nhiêu năm, bà tậu được một ông chồng cán
bộ huyện từ lâu.
Ông nghe chuyện, rầu rĩ bỏ hẳn ư định
hồi hương. Giấc mộng mua nhà, mở tiệm
ở Hongkong để vợ chồng tái hợp lập
nghiệp dưỡng già, thế là tiêu tan theo mây theo khói.
Giờ đây, ông đă thành một ông già lẩm cẩm.
Nhà hàng đă cho ông nghỉ để thuê những
người giúp việc khác, trẻ trung nhanh nhẹn
hơn. Có như thế, không khí trong nhà bếp mới
hoạt động. Các cô nữ chiêu đăi mặc áo
trắng ra vào tấp nập, gọi tên món ăn, treo
mảnh giấy lên cái đinh trước mặt
người bếp chính. Anh bếp phụ cất tiếng
nhắc lại thực đơn. Tiếng hô tiếng
đáp vang lên, thỉnh thoảng lẫn đôi tiếng
cười, mắt liếc. Đó là cách giữ các anh
bếp chính, vốn là nguồn sống của tiệm, và
để giữ các cô nữ chiêu đăi viên, cũng là
nguồn sống quan trọng hơn. Rồi thỉnh
thoảng lại thấy một cặp nữ chiêu đăi
và bếp chính từ giă chủ nhân để thành chủ
nhân của một tiệm nhỏ ở một thành phố
hẻo lánh khác.
Ông cũng đă từng mơ ước như thế,
nhưng bây giờ già rồi, mộng tàn trước khi
thành h́nh. Ông ở trong một khách sạn nhỏ, chuyên cho thuê
dài hạn ngay tại trung tâm thành phố Tàu này. Căn pḥng
ông đă thuê từ ngày xửa ngày xưa, nên giá tiền
không lên nhiều, so với các nơi khác đă tăng hàng chục
lần theo với giá sinh hoạt. Pḥng ông không lớn,
chỉ vừa để một cái giường, Ông
đóng một mảnh ván mỏng ngăn đôi gian pḥng,
bên kia có một bàn ăn nhỏ, ḷ điện để
nấu nướng và một cái tủ thấp đựng
chén bát, đồ làm bếp. Muốn dùng pḥng tắm hay
rửa tay, phải ra ngoài hành lang, có pḥng chung cho tất
cả mọi người cùng một từng lầu.
Những khách trọ khác phần nhiều có việc làm quanh
quẩn ngay trong thành phố. Suốt ngày đi vắng,
họ chỉ cần một chỗ đặt lưng
từ đêm khuya đến sáng, nên không thuê nơi có pḥng
tắm riêng đối với họ không cần thiết.
Đồ đạc của ông Hải rất giản
dị. Ông không có ǵ ngoài hai cái va li, vài bộ quần áo
cũ, vài món đồ dùng nhà bếp. V́ thế, gian pḥng tuy
nhỏ mà đối với ông vẫn rất rộng và
tạm gọi là đủ tiện nghi. Ông thích nhất
xuống đến đường là phố, đi thêm vài
trăm bước có thể gọi là chợ . Tất
cả các hàng thực phẩm, quà bánh, hoa quả ǵ cũng
có, mọi thứ bày la liệt, tràn cả ra ngoài hè phố,
giống hệt một thành phố Tàu ở Tàu. Mỗi
ngày, ông mua vài hào rau, vài hào thịt, thế là đủ
lương thực tươi ngon trong một ngày. Nếu
lười nấu, ông mua đồ ăn chín như thịt
xa xíu, gà vịt quay, hay bất cứ món ǵ đă xào nấu
sẵn, ăn tạm qua loa cho xong bữa.
Mỗi ngày ông dậy lúc 9 giờ sáng cùng tiếng hát .
Nhưng có một hôm không phải là “ Một ngày như
mọi ngày” . . . . . .
Hôm ấy trở trời, mưa lâm dâm và âm u, không có
nắng đẹp như những ngày trước. Ông
thấy người ê ẩm, đau nhức từng lóng tay
lóng chân, đang ngần ngại không biết nên ở nhà
nằm ĺ trong chăn hay dậy đi đọc báo với
mấy ông bạn già, th́ bà Thu gơ cửa. Thu đến t́m
ông với một bức thư của một bà bạn
cũ, quen với chị dâu Thu. Sợi giây liên lạc tuy có
hơi lỏng lẻo nhưng khi người ta đến
một xứ lạ, muốn t́m một chỗ đặt
chân, sợi giây lắm khi c̣n vô lư và mong manh hơn nữa.
Sau khi đọc xong thư giới thiệu Thu mang
đến. Ông Hải thấy khỏe hẳn lại. Ông
nhanh nhẹn mặc áo tơi, đội mũ, chống
gậy dẫn Thu đến khách sạn Bách Lạc.
Ông được biết Thu vừa mới góa chồng,
nàng vốn ở một tiểu bang khác, bây giờ dắt
đứa con trai độc nhất xuống miền Nam
t́m nắng ấm và t́m việc làm.
Ông vừa đi bộ vừa cắt nghĩa cho Thu t́nh h́nh
và cuộc sống ở phố Tàu. Lần đầu tiên
ông cảm thấy ḿnh quan trọng đối với
một người, nhất là một người đàn
bà trẻ và đẹp. Hơn nữa, người ấy
đang cô đơn ở một thành phố xa lạ,
với đứa con lên năm. Nàng cần chỗ ở,
cần việc làm, cần sự giúp đỡ của
rất nhiều người. Thế mà nàng chỉ biết
có một ḿnh ông, chỉ có thể hy vọng nhờ cậy
được vào ông thôi. Ông thấy hănh diện như
một người hùng sắp xắn tay áo lên che chở
giai nhân
Ông tưởng tượng ông sẽ giúp Thu t́m khách sạn
ở tạm, rồi t́m nhà, t́m việc. Thu sẽ giữ
cho Thu không bị ai lừa dối làm khổ nàng ở cái
thành phố xa lạ đầy cạm bẫy và quyến
rũ này.
Ông đưa Thu đến khách sạn Bách Lạc v́ đó
là một khách sạn gần nơi ông ở nhất và
cũng là nơi ông thích ngày ngày đến đọc báo
chùa nhất. Ông nói cho Thu biết khách sạn tuy cũ nhưng
to lắm, giá tiền lại rẻ. Ngoài ra, có một
điều đặc biệt, là phần nhiều du học
sinh Đông Nam Á đều trọ ở đây khi họ
phải chờ máy bay để đến nơi
được huấn luyện hay về nước.
Trong khi ngày ngày Thu đọc báo t́m nhà, đi xem nhà và t́m
việc, ông tự nguyện trông con cho Thu. Thấy Thu và con
phải đi ăn tiệm tốn nhiều, ông đề
nghị Thu mua đồ ăn đem về nhà ông nấu,
như thế vừa rẻ vừa ngon hơn. Ông Hải
nói đúng: cơm nhà nấu ngon thực. Ngày xưa ông
Hải đă từng làm đầu bếp nên biết xào
nấu rất khéo. Ông không cho Thu làm ǵ hết, bảo nàng
cứ ngồi nghỉ, để ông nấu một ḿnh, v́
ông thích được trổ tài như thế.
Một hôm, bé Tân vào pḥng ông phá phách một lúc, chạy ra
bảo mẹ:
• Bác Hải thế mà hư mẹ ạ.
• Sao thế con?
• Con thấy bao nhiêu là báo “ người ta không có áo quần
“ trong pḥng của bác.
Thu mắng con:
• Lần sau không được ṭ ṃ lục đồ
của người khác, nghe không.
Thằng bé c̣n không chịu, phụng phịu:
• Tại sao con lượm báo có h́nh đó chơi th́ không
được, người khác th́ được?
Thu phải dỗ dành con:
• Con lớn lên mới xem báo ấy được. Ai
lại mùa đông mà không mặc quần áo, lạnh
chết. Con có nhớ cái h́nh ba treo trong pḥng ngủ ngày
xưa không. Cô đó không mặc áo, me sợ cô ấy
lạnh bị cảm, nên phải quàng thêm một cái
khăn voan bên ngoài.
Bé Tân nghe có lư nên thôi không căi nữa, t́m tṛ chơi khác.
Trong khi Thu ngồi chờ cơm, nàng nhận thấy có
một sự thay đổi trong pḥng.
Mấy hôm trước, nhà cửa trông bẩn thỉu, bây
giờ được quét dọn sạch sẽ. Nồi
xoong được đánh bóng sáng loáng hẳn lên. Cả
cái bàn ăn xiêu vẹo, cũ kỹ, long chân, hôm qua c̣n nham
nhở mốc meo, bây giờ được trải
một tấm khăn ny lông mới. Thu mỉm cười
nh́n ông già đang lụm cụm nấu ăn. Nét mặt
răn rúm đau khổ già nua, cách đây ba hôm, nàng c̣n
thấy những nét bơ vơ lạc lơng trong ánh mắt, th́
giờ đây, h́nh như có một niềm tin vui tỏa ra.
Trong góc pḥng, một cây chuối con trồng trong chậu
cảnh. Cây chuối của xóm làng Trung Hoa là một thứ
cây mọc tràn đồng, một trong những loại
không cần săn sóc và có thể mọc ở bất
cứ bờ bụi nào. Nhưng ở đây, cây chuối
được cưng chiều, được nằm
trong chậu sứ, được nâng niu như cành vàng lá
ngọc. Cây chuối của ông Hải gầy gầy, lá
nhỏ mong manh, trông thanh cảnh như một cô gái cấm
cung. Ngày ngày, ông Hải tưới cho cây chuối một
chén nước, mỗi tháng, ông cho bột chất bổ
của cây vào nước một lần.
Những hôm trời âm u, nắng không xuyên qua cửa sổ
vào pḥng được, ông bưng cả chậu lên sân
thượng sưởi, đến tối phải
nhớ đem vào kẻo sợ sương lạnh ban
đêm làm hại loại cây nhiệt đới. Cây
chuối tuy bé nhỏ nhưng trông già dặn như một
cây lớn. Nó cũng có những bẹ khô xơ xác, như
tà áo nâu tơi bời bao quanh những bẹ tươi non.
Trong góc pḥng, cây chuối chiếm một chỗ to rộng
nhất, v́ nó tượng trưng cho một bầu
trời quê hương của ông. Cây chuối này, mấy
hôm trước, lá đục mờ v́ bụi, hôm nay, lá
cũng được lau chùi sacïh sẽ, bóng hẳn lên và
trong sáng một màu lục như cẩm thạch.
Trong chốc lát, Thu thấy tội nghiệp ông già. Những
hôm trời mưa, không đi xem nhà được, Thu
ngồi yên lặng nghe ông kể chuyện . H́nh như ai
cũng có một chuyện đời bất công, uất
ức để kể, miễn có người chịu nghe
và có không khí thuận tiện để tâm t́nh. Bên chén trà
nóng trong pḥng trọï, ông già kể và nhỏ từng
giọt nước mắt vào chén trà thơm mà không
biết.
Chiều hôm sau, trong lúc Thu và ông Hải đang xem báo t́m
nhà,t́m việc ở pḥng khách của khách sạn, th́ có
một nhóm sĩ quan đi vào. Trông thấy Thu, họ
dừng lại chào hỏi rất niềm nở. Thu vui
vẻ nói chuyện với họ, và h́nh như quên ông
vẫn c̣n đang chăm chú xem báo trong một góc pḥng.
Tối hôm ấy, Thu và con đi ăn cơm nhà hàng với
các bạn mới của nàng. Ông biết bọn họ là
sĩ quan ở Đài Loan mới sang, đang đợi máy
bay để đi các khu huấn luyện. Ngồi một
ḿnh với các món xào nấu ở nhà, ông thấy nuốt
không xuống. Cuộc đời niên thiếu của ông
chỉ biết làm việc. Cuộc đời già nua ông
đă quen sống với chua chát cô đơn. Trong mấy
ngày gần đây, bỗng dưng xáo trộn hẳn lên.
Căn pḥng lạnh lẽo hiện ra bóng dáng của một
người đàn bà đi ra đi vào. Bên bàn ăn nổi
lên tiếng cười đùa, câu hỏi ngây thơ của
trẻ con. Tất cả những thứ này đem hạnh
phúc cho đời ông, và cũng những thứ này, thiếu
nó, sóng gió nổi lên trong ḷng ông.
Mấy người sĩ quan trẻ tuổi kia, mới
quen Thu đă đưa mẹ con nàng đi đâu mất.
Ông thấy lo sợ cho Thu. Không biết cái bọn đàn ông
tinh ranh quỉ quyệt kia quyến rũ nàng đến
chốn nào, nàng có bị dỗ dành, có bị lợi
dụng không? Ông muốn nói cho Thu biết đàn ông là
giống đáng sợ lắm. Họ nh́n đàn bà với
cặp mắt ngưỡng mộ bên ngoài, với ư nghĩ
chiếm đoạt bên trong, cùng một lúc sắp sẵn
chương tŕnh xa chạy cao bay . . . . Ông cảm thấy
cần phải giúp đỡ bảo vệ Thu như
một đứa con gái của ông. Ừ, con gái của ông cũng
trạc tuổi Thu, nếu nó lưu lạc sang đây, nó
cũng có thể ở trong một khách sạn, và cũng có
thể bị những chàng trai mặt mày sáng sủa
nhưng tâm hồn âm u quyến rủ. Ai sẽ bảo
bọc, che chở cho con gái ông?
Ông Hải nghẹn ngào trước bát cơm c̣n nguyên,
bỏ đũa, mặc áo khoác xuống phố t́m .
Biết bọn Thu đi ăn, ông chỉ quanh quẩn mấy
tiệm lớn có tiếng. Ông Hải đảo qua hai ba
nhà hàng, nơi nào ông cũng bước vào nh́n khắp các
pḥng, nhưng không thấy Thu đâu cả. Đến
tiệm trước kia Thu vẫn thích ăn cũng không
thấy ông đâm lo. Mắt ông dáo dác nh́n quanh, chân này đá
lẫn chân kia, cứ thế ông đi suốt mấy con
đường bán thực phẩm và đồ chơi,
quần áo. Lúc đi qua một tiệm rượu, ông
chợt trông thấy bé Tân đứng chơi ngoài cửa.
Mừng quá, ông chạy vội đến hỏi:
• Me đâu ?
• Me trong kia, đang mua đồ.
• Tối nay cháu ăn có no không, có ngon không?
• No, ngon lắm. Bác đi đâu đấy ?
Ông Hải lúng túng:
• Bác đi dạo một lúc trước khi đi ngủ.
Ông Hải đă định gặp Thu sẽ mắng Thu
một trận. Sẽ nói cho Thu biết những cái nguy
hiểm ở thị thành. Ai lại mới quen mấy
người này, mà đă dám đi ăn, đi chơi
phố la cà như vậy. Ông có nhiều điều
cần phải khuyên bảo Thu lắm, thế nhưng bây
giờ trông thấy Thu đứng trong tiệm, ông không dám
vào gặp Thu, và ông cũng không nghĩ đến chuyện
dạy bảo ǵ cả.
Ông tự hỏi ông là ai ? Ông là ǵ của Thu mà
được dạy bảo và mắng nàng ?
Nếu ông là một đồng hương, th́ những
người kia cũng là đồng hương của Thu
như ông vậy. Họ có thể tṛ chuyện hay mời
Thu đi chơi, đi ăn. Thu muốn đi đâu hay làm
ǵ, ông không có quyền cấm đoán can thiệp vào việc
riêng của nàng.
Ông Hải đứng lui vào một góc, giả vờ xem các
món hàng, để nh́n vào bên trong. Thu cầm hai chai
rượu Mai Quế Lộ, đang cười cười
nói nói với các bạn mới.
Ông Hải kinh ngạc đến cực điểm:
• Thu uống rượu ? Thu mà cũng uống rượu
? Thế này th́ hỏng! Mấy hôm nay, mỗi bữa ăn,
ông đều uống một cốc nhỏ để khai
vị, hay nói cho đúng hơn, ông muốn tận
hưởng hoàn toàn cái hạnh phúc đến bất
ngờ với ông: cái h́nh ảnh mà suốt đời ông
không bao giờ dám ngờ sẽ xảy ra – cái h́nh ảnh
của một người đàn bà và một đứa
trẻ con ở trong nhà. V́ thế, ông tự khao một
cốc rượu nhỏ trước mỗi bữa
cơm. Ông đă mời ép Thu nhiều lần, nhưng bao
giờ nàng cũng từ chối. Giờ đây chính Thu mua
rượu. Thu sẽ uống với ai? Bọn thanh niên
chăng? Ông thấy uất hờn dâng lên tận cổ,
không biết những thằng ranh con kia, đứa nào
đă xui giục Thu mua rượu, để rồi
đêm nay sẽ chuốc cho nàng say ?
Ông theo bọn Thu về đến khách sạn, thấy Thu
lấy ch́a khóa ở bàn người thư kư, rồi
bế con lên gác. Các sĩ quan mang xách hộ nàng những gói
lớn, gói con. Họ theo nàng vào đến tận pḥng. Ông
Hải thấy chân tay bủn rủn, ông ngồi xệp
xuống cầu thang, giả vờ mở một tờ báo
ra đọc để chờ xem bọn kia bao giờ
mới về.
Ông nh́n vào tờ báo mà không trông thấy chữ. Tiếng
cười, tiếng nói vọng ra như những mũi
kim đâm nhói vào tim ông. Bỗng dưng ông Hải thấy giận
dỗi. Ông đang sống yên tĩnh với cái làng xóm
Phố Tàu của ông. Nguồn sống của ông là tiền
già, cộng với chút vốn c̣n sót lại, ông giao cho
một nguời bạn thân buôn bán chia lời. Mỗi tháng,
người ấy đưa cho ông một số tiền
nhỏ, đủ ăn tiêu và trả tiền pḥng. Ông
đă tưởng đời thế là hết sóng gió
rồi. Không ngờ, chỉ trong mấy ngày, một
người đàn bà xa lạ và một đứa bé con
đă làm sống dậy tất cả ham muốn và dục
vọng ông chôn chặt từ lâu. Oâng thấy ông có quyền
được sống như mọi người, có
quyền được sung sướng như mọi
người. . .
Những cô nương, thái thái Trung Hoa ở đây, ai
cũng sang trọng quá, kiêu kỳ quá. Ông nh́n họ như
nh́n những nàng tiên hay những bà công chúa ở một
thế giới khác. Một cô gái, dù không phải là ḍng dơi
thượng lưu, cũng vẫn kiêu kỳ. Dù chỉ là
một cô hầu bàn, cô cũng có giấc mơ của
một bà công chúa. Trong giấc mơ ấy, chàng Hoàng Tử
đẹp trai là anh đầu bếp chính, nấu ăn
khéo, khỏe mạnh, để một ngày kia cô cũng
sẽ trở thành bà chủ tiệm như ai. Nếu là
một cô thư kư, th́ giấc mơ của cô cũng cao hơn
các đồng sự bạn trai của cô nữa. Thứ “
đại trượng phu” như ông, chỉ
được coi ngang hàng với rơm rác.
Đời ông Hải chưa từng được nói
chuyện lâu với một nguời đàn bà nào bao giờ.
Dù lạ dù quen chẳng có ai rảnh rang để liên
lạc với một ông già nghèo nàn, lẩm cẩm, ốm
yếu như ông. Thế mà người đàn bà này đă
ngồi nghe ông kể chuyện hàng giờ, hết giờ
này sang giờ khác. Nàng không kiếm cớ bỏ đi
lảng, không ngáp vặt, không nh́n trời nh́n đất,
không lo ra. Người này nghe bằng tai, bằng mắt,
bằng óc và cả bằng tim nữa.
Nhớ đến lúc ông đem từng bức thư
của vợ ra đọc. Ông quá cảm động tim
đập mạnh từng hồi. Thu im lặng và lắng
nghe ông, như uống những lời tâm sự. Ông
tưởng Trời Phật sai người đàn bà này
xuống làm cho cuộc đời ông sáng lại, để
đền bù những nỗi bất công ông đă phải
chịu trong mấy chục năm trường.
Thế mà . . . nghĩ đến mất Thu, đêm ấy
ông Hải ngủ một giấc ngủ chập chờn
hốt hoảng và đầy ước mơ lẫn
với lo sợ.
Sáng hôm sau, khi ông Hải dậy th́ đă mười
giờ. Ông vội vàng thay quần áo đi t́m Thu.
Đến trước khách sạn, ông thấy Thu đang
đứng chờ tắc xi với một đống hành
lư ngổn ngang. Trông thấy ông, Thu chạy vội
đến gần, mừng rỡ:
• Ḱa bác đă đến. Cháu tưởng bác c̣n ngủ,
không muốn làm phiền bác. Định để giấy
lại cho bác hay, rồi hôm khác sẽ trở lại
thăm bác.
Ông Hải run rẩy hỏi:
• Các người định dọn đi đâu
đấy?
• Cháu thuê được một từng lầu ở
dưới phố rồi. Hôm nay cháu phải đi sớm,
kẻo chốc nữa quá giờ, khách sạn sẽ tính
thêm một ngày tiền pḥng.
• Bà có cần tôi giúp ǵ không ?
Thu chỉ các sĩ quan:
• Thôi, không dám phiền bác. Có các bạn cháu đây nhân
tiện sắp đi tŕnh diện, mạnh tay, mỗi
người giúp cháu mang vài món được rồi.
Ông Hải ngước mắt nh́n bọn con trai. Bọn
họ trông khỏe mạnh thực. Người nào cũng
cao lớn khôi ngô, mặc quân phục chỉ vàng, chỉ
bạc lủng lẳng đầy người.
Thu đưa cho ông một cái gói bảo:
• Cháu không biết mua ǵ biếu bác, có thứ này chắc bác
thích.
Ông Hải đỡ lấy cái gói, không nói ǵ. Mắt ông nh́n
quanh, đầy vẻ hờn oán và kinh ngạc, v́ mọi
việc xảy ra mau chóng ngoài sức tưởng tượng
của ông.
Thu chia đồ đạc ra hai phần, các sĩ quan cùng
đi ngồi hai xe. Trông họ mang xách gọn gàng và nói
tiếng Anh nhanh như gió, ông Hải thấy tủi thân.
Ông không được như họ, th́ c̣n mong ǵ giúp Thu, dù chỉ
xin đi theo để dọn đồ.
Một lần nữa, ông cảm thấy đời
thực vô nghĩa. Sống vật vờ không gia đ́nh,
không t́nh yêu, không bà con họ hàng, không thạo tiếng nói
bản xứ. Có quê hương nhưng sẽ không bao
giờ được về. Ông chỉ c̣n cách thu nhỏ
ḿnh lại, như một vật để làm cảnh cho
pḥng đọc sách của các khách sạn cũ kỹ, bám
chặt lấy cái thành phố Tàu trên đất Mỹ này.
Thu đă lên xe, mọi người cùng đưa tay vẫy
chào ông. Ông vẫy chào lại, mắt mờ đi. Chân ông
run run, đầu gối mỏi như muốn gẫy
gập. Ông ngồi bệt xuống vỉa hè, mở cái gói
của Thu tặng ra xem. Bên trong có hai chai rượu Mai
Quế Lộ, một cái áo len dày, một tá bít tất và
một cái khăn quàng. Ông cầm chai rượu dằn
mạnh xuống đất, giận dữ:
• Hừ, người ta trả công cho tôi như thế này
sao?
Món quà đáng giá, đền công ông giúp đỡ,
được rồi. Nhưng c̣n trái tim của ông,
tấm ḷng của ông, th́ giá nào mà đền cho
được!
Ngồi thẫn thờ một lúc, ông nhặt gói quà, ôm
chặt vào ḷng một cách âu yếm, đi về phía
chợ. Ông định mua đồ nhắm, về nhà
uống một bữa cho thực say.
Không làm khác được, ông muốn tự làm khổ ḿnh
để trả thù, mà cũng không biết bằng cách nào,
trả thù ǵ và trả thù ai.
Về đến nhà, ông ngồi vội xuống bàn,
lấy hai cái cốc đổ đầy hai cốc
rượu, ông uống một cốc, c̣n một cốc
tưới vào gốc cây chuối, th́ thầm:
• Tao chỉ có mày thôi. Uống với tao một cốc cho
vui.
Uống hết, ông lại rót ra hai cốc rượu khác,
nhấm nháp dần dần, và cũng đổ từ
từ vào gốc cây chuối.
• Mày biết không ? Ai cũng bỏ tao cả. Tao không c̣n ǵ
ở trên đời này nữa, trừ mày ra. Mày
đừng đi đâu hết nghe không? Uống đi! Uống
thêm vài cốc nữa với tao mới là bạn tốt
chớ.
Cứ thế, từng cốc, từng cốc, ông vừa
nhấm nháp vừa đổ cho cây chuối.
Khi ông Hải tỉnh dậy, thấy gian pḥng mờ mờ
tối. Ông không biết rơ là ngày hay đêm, mà cũng không
muốn biết. Ông Hải thấy ḿnh nằm vắt trên
bàn, chung quanh, chai cốc ngổn ngang, dưới chân ông, cây
chuối cũng bị ngă nghiêng. Cây chuối bây giờ không
c̣n màu lục non xanh tươi nữa, lá nó xàu và thân cây
mềm hẳn đi.
Ông Hải dựng cây chuối dậy, vỗ về:
• Chết chưa, mày uống nhiều rượu quá! Mày say
đấy à? Tại sao mày héo thế này? Mày buồn
phải không? Ừ phải, mày buồn cho tao cũng
được, nhưng nhớ đừng có chết nghe
không! Mày buồn thôi, chứ đừng bỏ tao mà
chết!
Những tiếng cuối cùng, ông vừa nói lầm
thầm, vừa nhổ cây chuối, bước vào pḥng
trong nằm vật xuống giường ngủ lại.
Cây chuối, ông đặt nằm gối lên cánh tay ông, khe
khẽ bảo:
• Đừng buồn nghe không! Thôi đừng buồn
nữa, tao sẽ săn sóc mầy . . Đừng buồn nữa
. . . nghe cưng… . . .
Tiếng ông lẫn với tiếng ú ớ, rồi im
hẳn.
Giọng hát của ca sĩ trong pḥng tắm mỗi 9
giờ sáng nhự đồng hồ báo thức lại
văng vẳng vang lên. Nhưng không biết giọng ai
đó có c̣n ma lực hấp dẫn dục ông Hải
thức dậy để tiếp tục cuộc sống ”
Một ngày nhự mọi ngày “ nữa không.
Linh Bảo - 1962