|
1.
• Dê là một con vật khá nổi tiếng trong văn hóa
Việt Nam không những trong ngôn ngữ thông dụng hàng
ngày mà dê cũng còn len lỏi vào văn chương để
được tồn tại với văn học sử.
Dê rất bình dân và được chứng nhận sự
hiện diện của khắp mọi giới tuy không lấy
gì làm vinh hạnh lắm. Những tiếng dê cụ, dê
già, râu dê, dê xồm không đem lại vẻ vang cho người
được phong tặng. Nhưng thực ra con dê có tội
tình gì đâu! Nó chỉ làm theo thiên tính và theo sứ mệnh
của Trời phú cho. Sứ mệnh là truyền giống
và thiên tính là mạnh được yếu thua. Con dê mạnh
nhất sẽ là dê đầu đàn, được quyền
hưởng thụ tất cả “Tam cung lục viện”,
được quyền truyền lại nòi giống khỏe
mạnh. Cụ dê nào già yếu lẩm cẩm, anh dê trẻ
nào chưa đủ tinh khí thì chịu khó đi chơi chỗ
khác. Ngoài ra dê cũng được đi vào thành ngữ
không kém gì những con vật được cưng chiều
khác. Một vài ví dụ thông dụng nhất là:
• Mười dê chín người chăn: Hình dung lãnh tụ
hay quan đông hơn là dân. Như ruột dê: Cái gì khó
khăn chật hẹp, cong queo.
• Nuôi dê được cắt lông: Chịu khó làm việc
thì được thu lợi ( lông dê dùng làm bút rất tốt
).
• Đuôi dê ngắn không đủ che . . . đằng sau:
Việc làm quá sức mình.
• Dê khoác áo cọp: Mượn oai kẻ khác để dọa
nạt, đánh lừa người.
• Ném chó bằng bánh bao nhân thịt dê: Cái gì đưa ra
không bao giờ lấy lại được.
• Nộp dê cho sói: Đưa vào cõi chết hay tìm đến
sự nguy hiểm.
• Sói nuôi dê: Không phải có mục đích tốt.
• Mất dê được bò: Rủi mà may.
• Trong văn chương, dê được nữ sĩ Hồ
Xuân Hương làm cho bất hủ với câu: “ Dê cỏn
buồn sừng húc giậu thưa”. Thực ra dê rất
ngây thơ hiền lành và đem lại nhiều lợi ích
vô cùng. Ở những xứ lạnh miền núi xa xôi, nếu
không có thịt dê, sữa dê, áo da dê, người ta không thể
qua mùa đông dễ dàng. Một số làng mạc nhỏ
vùng núi tuyết cao, dê còn được dùng ôm ngủ
để truyền sức nóng cho người trong những
đêm đông giá rét đệm rơm không đủ ấm.
• Chuyện Bá Lý Hề với năm tấm da dê là một
câu chuyện không thể bỏ sót khi nhắc đến
cái giá trị bất ngờ của năm tấm da dê: Bá
Lý Hề người nước Ngu, làm chức Đại
Phu. Ngu bị Tấn diệt, Hề bị bắt . Vì
không chịu làm nô lệ, Hề đi trốn, lại bị
nước Sở bắt. Hề phải làm việc
chăn bò. Tầân Mục Công biết Hề là người
có tài muốn đem vàng bạc châu báu chuộc ông để
mời giúp việc nước. Có người can rằng:
Đừng nên đem trọng lễ để chuộc.
Làm như vậy thì vua nước Sở sẽ biết
Bá Lý Hề là người giỏi, tội gì mà thả ra.
Vua Sở sẽ dùng tài của Bá Lý Hề làm cho nước
mạnh dân giầu. Chi bằng ta đem một ít lễ vật
rất nhỏ gọi là cho có vậy thôi. Như vậy
vua Sở sẽ nghĩ là ông ta không có giá trị gì mấy
mà thả cho về.
• Tần Mục Công nghe lời đem năm tấm da dê
xin chuộc. Vua Sở thấy lễ vật đạm bạc,
cho rằng giữ anh chàng ấy, cũng chẳng làm
được tích sự gì, nên nhận lễ vật thả
người. Tần Mục Công chuộc được
Bá Lý Hề đem về, phong ngay làm Tướng Quốc
và ông Tướng Quốc này đã làm cho nước Tân
thành giầu mạnh một thời và được mệnh
danh là “ Ngũ Cổ Đại Phu”, nghĩa là ông Tướng
Quốc năm bộ da dê.
• Dê là giống vật cho con bú. Ba loại dê chính là Sơn
Dương, Miên Dương và Linh Dương, trong dân gian
khi nói đến dê, phần nhiều để chỉ
Sơn Dương.Thời kỳ giao vĩ từ mùa thu
cho đến lập xuân tháng tư, dê đẻ từ một
đến bốn con. Dê con độ hai tháng bắt đầu
rời mẹ và chỉ một năm sau là trưởng
thành. Thịt dê ăn bổ, sữa dê tốt hơn sữa
bò. Lông dê dùng để làm bút lông. Da dê chế găng tay,
ví,và nhiều vật dụng khác. Giống Sơn
Dương nguyên thủy hoang dại nhưng về sau
thành dê nhà, dê nuôi nên chủng loại biến hóa rất nhiều.
Tùy địa phương thủy thổ mà biến dạng,
nhưng nước nào cũng có giống dê đặc biệt
riêng của địa phương mình.
• Giống Miên Dương sau khi thành gia súc đều rất
hiền lành. Con nào mạnh nhất làm đầu đàn.
Thịt ăn được, lông dùng làm áo cừu rất
dầy và ấm. Giống này cũng biến chủng, mỗi
nước đều hơi khác nhưng không ngoài thân thể
lớn nhỏ, lông dài, ngắn, thẳng, xoắn, sừng
lớn, nhỏ, cong hay thẳng. Riêng về giống Linh
Dương có sừng đen, nhọn, cong ra đằng
sau, rất cứng đẹp, được coi là một
vị thuốc quý để chữa lui cơn sốt. Dê
con lúc bé hay quỳ gối dưới bụng mẹ để
bú, người xưa cho là một giống động vật
biết tri ân, biết cảm tạ mẫu ân, vì thế
lúc làm lễ cúng tế thiên địa quỷ thần
người ta hay tế dê là để tỏ lòng báo
đáp ân huệ của Trời Đất tạo hóa.
• Ở vùng Tây Vực, dân sống chuyên về chăn nuôi
dê, họ lấy lá ngải đốt xương dê cháy
đen để xem những đường cong hay thẳng
hiện ra trên xương mà đoán kiết hung gọi là
bói xương dê. Chuyện ông Tô Vũ chăn dê là một
đề tài đặc sắc cho các tuồng hát, cũng
như Tô Vũ Mục Dương là một bài ca bất hủ.
• Tô Vũ làm quan dưới triều vua Hán Vũ Đế,
đi sứ Hung nô. Vì không chịu khuất phục, bị
đày đến Bắc Hải chăn dê. Tô Vũ
cương quyết không đầu hàng nên bị chăn
dê mười bảy năm, với điều kiện
bao giờ bầy dê đực đẻ ra dê con sẽ
được thả về nước.Mãi đến
đời vua Thiệu Đế kết thông gia với
Hung nô, Tô Vũ mới được thả, khí tiết
của ông làm ai cũng kính phục. Và bài ca Tô Vũ Mục
Dương được đặt ra cũng là để
tỏ lòng ngưỡng mộ ông.
• Dê thuộc hỏa tính cương, vì thế lúc mùa
đông giá rét, người miền núi thích ăn thịt
dê để chống khí lạnh. Thịt dê qúi hiếm,
giá đắt nên có kẻ gian tham đánh lừa bán thịt
chó giả làm thịt dê để được giá cao.
Vì thế mới có câu “ Treo đầu dê, bán thịt chó”.
Dê rất sợ nước, sợ mưa và sợ ẩm
ướt. Nếu chuồng dê không cao ráo sạch sẽ
thì dê hay bị chứng bịnh phong thấp và chết ngất.
Theo Trung y người ốm hoảng hốt thất thần,
sùi bọt mép, la hét như dê kêu gọi là chứng “
Dương vựng” hay bị trúng Dương Điều
Phong.
• Xưa nay, dê vẫn được coi là con vật tốt.
Chữ Tường trong “ Kiết Tường” là may mắn
tốt đẹp cũng do chữ Dương biến dạng.
Trong tôn giáo, đạo Cơ Đốc hình dung loài người
rất dễ bị lạc đường, cũng giống
như cừu, dê và phải được cảm hóa bằng
tôn giáo, để cho con chiên lạc nẻo biết lối
trở về, nên đạo Gia Tô tự xưng mình là kẻ
chăn chiên.
• Trong Trung dược có vị thuốc “Dương Ai”
sinh ra trong dạ dầy của dê, hình tròn lớn nhỏû
không nhất định. Truyền thuyết nói rằng vật
ấy do dê ăn bách thảo mà kết thành nên cũng
được gọi là “ Bách Thảo Đơn”. Về
thực vật có một giống hoa rất đẹp
tên là Dương Đề Giáp. Hoa này cùng loài với hoa Phụng
Hoàng Mộc, cả hai đều có năm cánh. Mặc dầu
hoa màu hồng rất xinh đẹp nhưng chỉ vì mang
tên Dương Đề Giáp nghe không được cao
quý lắm, và mầu phấn hồng cũng thanh đạm
nên ít được người lưu ý.
• Thi nhân ví rằng: “ Người thiếu phụ trang
điểm lộng lẫy đẹp như hoa Phụng
Hoàng Mộc, còn cô thôn nữ đẹp thanh nhã thùy mị
như Dương Đề Giáp.” Hoa có tên “ móng chân dê” này
từ lễ Thánh Đản đã bắt đầu nở.
Đến gần Tết hoa lại càng nở rộ, nên
cũng được gọi là Nghênh Xuân Hoa, và hoa tiếp
tục nở mãi đến hết Thanh Minh tháng 5 mới
tàn. Vì trời càng lạnh hoa càng nở nhiều nên
cũng được gọi là “ Ấn Độ Anh Hoa”
và Nhật Bản Đào Hoa”.
• Theo sách tướng, người tuổi Dê rất nho
nhã hiền lành. Có việc gì cũng làm chu đáo nếu cần.
Có chí cầu tiến, giao thiệp dễ dãi. Tính nhẫn nại,
lắm khi kiên cường và không lộ, nên nếu chỉ
nhìn bề ngoài thì rất dễ lầm. Trong hôn nhân, tuổi
Dê kỵ tuổi Tý(chuột) Ngưu (trâu), Tuất (chó), mà
thích hợp với tuổi Mão( mèo), Mã (ngựa), Hợi
(heo). Theo mệnh tướng học thì trong ngũ quan, “
Dương Nhãn” là mắt dê, nghĩa là tròng hơi đen
có lẫn ít vàng nhạt, thần không rõ. Những người
có mắt dê này dù nhận gia tài để lại cũng
không hưởng thụ được. Tuổi già nghèo
khổ, nên cần phải tu tâm dưỡng tánh. Người
có “ Dương Khẩu” là mồm dê, có hai vành môi mỏng
dính, khóe môi trễ xuống. Lúc uống nước táp
như chó là tướng bần tiện và hung ác. ”Hồ
Dương Tỵ” là mũi dê lớn. Lan Đài Đình Úy
cũng lớn. Sơn căn không lộ thì sống lâu,
giàu có của cải rất nhiều. Sách Châu Công giải
mộng nói rằng, mộng thấy dê đi như heo là
có người đến thăm. Mộng thấy cỡi
dê trên đường, là phát tài. Mộng thấy dê lợn
cắn nhau là khẩu thiệt, mộng thấy giết dê
là hung, mộng dê mẹ đẻ dê con là đại kiết.
• Chuyện xưa kể lại rằng ông Bái Công khi còn
làm chức nhỏ, nằm mộng thấy đuổi
theo một con dê bẻ sừng và đuôi dê đứt rời
khỏi mình dê. Tỉnh dậy nhờ người đoán
chiết tự giải rằng: Chữ Dương là dê bỏ
hai sừng và đuôi đi, còn lại là chữ
Vương, nghĩa là vua. Về sau Bái Công khởi binh
đánh Tần, diệtSở, lên làm vua tức là vua Hán Cao
Tổ.
• Theo Trung y, thịt dê có tác dụng ôn dương trợ
hỏa, có thể bổ trung, ích khí, ôn vận phù
dương. Ở nhữngvùng núi cao lạnh, phải dùng
thịt dê là món ăn chính trong mùa đông mới đủ
ấm người. Thành phần của thịt dê có đản
bạch, chất béo, giáp, điển, lân, thiết và sinh tố
Bi, B2 .. Nhiệt lượng của thịt dê cao hơn
thịt bò. Chất sắt cao hơn thịt lợn sáu lần
nên công hiệu bổ huyết khá mạnh.
•
• MÓN THỊT DÊ BỔ DƯƠNG KHÍ:
•
• Trung và lão niên dương khí yếu kém, suy nhược,
nên thường ăn thịt dê, nấu theo những cách
như sau:
• 1.Dùng củ cải trắng chưng cách thủy cùng với
thịt dê để khử bớt mùi tanh. Nấu hai thứ
đều chín xong, bỏ củ cải, cho thịt
thăn heo và hột Kỷ tử chưng cách thủy
độ nửa tiếng đồng hồ.
• 2. Cách thứ hai: Thịt dê thái mỏng, nhúng tái. Lúc
ăn uống rượu ngâm táo đỏ. Có thể
ăn kềm với các thứ rau tía tô, rau thơm, rau mùi
.
• 3. Cách thứ ba: Thịt dê, Kỷ tử, Hoài sơn,
chưng cách thủy để làm món ăn bổ mùa
đông.
• 4. Cách thứ tư: Dịch hoàn của dê, tần chung với
thịt dê, mỗi ngày ăn một lần để bổ
túc tinh lực cho lão niên, trung niên.
•
• THỊT DÊ VỚI PHỤ NỮ
•
• Phụ nữ khí huyết không đủ, ăn thịt
dê, gan dê có công dụng bổ trung ích khí. Các bà sinh đẻ
xong hư nhược, mồ hôi chảy không ngừng,
dùng thịt dê, Đương qui, Hoàng thị, Sinh
cương, nấu chung ăn sẽ mạnh. Nếu sữa
ít nấu thịt dê với Mộc thông như canh, ăn sẽ
có nhiều sữa.
• Tiết dê pha rượu giải độc, bổ huyết,
trị chóng mặt, nhức đầu.
• Gan dê làm sáng mắt. Gan dê có nhiều sinh tố A. Những
người bị chứng dại manh, đêm tối nhìn
không rõ, ăn gan dê để bổ huyết, làm sáng mắt,
cũng là một món thuốc quý. Người già mắt yếu
kém, đêm tối mắt mơ hồ nhìn không rõ nên ăn
thường luôn. Người trẻ dùng cũng giúp cho
lúc về già khỏi yếu mắt .
• Dịch hoàn dê trợ dương. Người thần
kinh suy nhược, bất lực, thiếu tinh khí nên
không con, ăn dịch hoàn của dê sẽ tăng thêm khí lực.
Người đau dạ dày ăn bao tử dê dạ dày sẽ
lành mạnh. Theo Trung y, sữa dê cũng là một thức
uống quan trọng, dễ tiêu hóa hơn sữa bòø, sữa
dê cũng được dùng làm rượu. Rượu sữa
dê là một thứ rượu được chế từ
thuở dân du mục còn lang thang khắp nơi. Thịt dê
là thức ăn thuộc ôn dương, có nghĩa chỉ
tính chất ấm nóng, nếu người già yếu bị
chứng hư lạnh, sau khi ăn thịt dê, toàn thân sẽ
thấy ấm áp.
• Sách Trung y cổ xưa ghi rằng “Thịt dê bổ
nguyên dương, trị hư nhược, có thể làm
thuốc bổ, để thân thể mạnh thêm”. Sách
cũng ghi rằng: “ Thịt dê có thể giúp đầu
não minh mẫn, tiêu trừ mệt nhọc và hàn lãnh, cường
tráng vị trường, ích khí, làm tâm thần bình tĩnh.
Trong các sách nấu thịt dê để làm món ăn bổ
do sách cổ ghi chép lại thì món thịt dê tần thông dụng
nhất. Tần là chưng cách thủy. Cách làm:
• Cho vào bát thịt dê xắc lát, cùng chung với
Đương quy, Long nhãn nhục (long nhãn khô) vài lát gừng,
đổ rượu trắng xăm xắp. Đậy
nắp, chưng cách thủy độ một tiếng
đồng hồ.
• Sừng dê dùng làm thuốc trị nhức đầu,
đau đầu và trẻ con bị dương phong. Về
mùa hạ những lúc nóng nực, người ta hay cảm
thấy bực bội, gắt gỏng, trẻ em cũng
đâm ra sinh chứng quấy. Nếu cảm thấy
đầu nặng khó chịu có thể do can hỏa thịnh
sinh ra uất kết. Trường hợp này món ăn Linh
dương ty nấu với thịt nạc chung với
thuốc Câu Tất là món thích hợp giải nhiệt. Câu
tất có thể thanh can hỏa, bình can. Linh dương ty
là sừng dê cạo mỏng, sách Trung y ghi sừng linh
dương có tác dụng bình can, thu cân, định phong rất
công hiệu. Các bài thuốc Trung y hay dùng Linh dương
giác ty để thanh can hỏa, tán phế nhiệt, minh
nhãn mục. Và mặc dầu sừng dê tính hàn, nhưng mỗi
tháng chỉ dùng một hai lần, mỗi lần độ
một liều thì không sợ quá độ.
• Cách nấu Dương linh giác rất giản dị. Mua
một tiền Dương linh giác ty (1 tiền = 3.60 gr ) bỏ
vào bao vải, 4 tiền Câu Tất. 30 gr. thịt nạc,
vài trái táo đỏ. Nấu lửa nhỏ độ một
giờ rưỡi, uống một bát nước canh này
thì sẽ hết nóng nảy gắt gỏng. Sừng dê vụn
nấu xong có thể rửa sạch để khô, dùng lại,
mỗi bao dùng ba lần mới hết chất thuốc.
•
• BỆNH DƯƠNG ĐIỀU PHONG
• Bệnh phong này có hai loại, một là chứng bệnh
phát ra từ bên trong gọi là nội nhân chứng, hai là bệnh
phát ra do bên ngoài là ngoại nhân chứng (nhân đây là nguyên
nhân). Khi bệnh phát ra do nội nhân, toàn thân người bệnh
run rẩy có khi bất tỉnh, phần nhiều là do bệnh
di truyền. Ngoại nhân là bị bệnh ở đầu
não, sưng, viêm não, những bệnh do huyết quản mà
ra. Cũng vì bệnh phát do nội nhân bị từ thuở
bé, tì vị bị nội thương gặp ngoại cảm
dễ ngất xỉu miệng sùi bọt, cất tiếng
kêu rên như dê kêu, rồi bất tỉnh,.. n ếu trị
theo cách trúng phong thường, tuy cứu tỉnh nhưng
không thể trừ căn.
• Trung y có nhiều thang thuốc uống để chữa
trị nhưng đề chỉ để tẩm bổ
tạm thời, điều cần nhất là phải biết
cách dự phòng đừng để phát ra. Người bị
bệnh phong này thường không muốn ai biết. Lúc
nào cũng lo âu sợ hãi và càng lo sợ, bệnh càng hay
phát. Cách tốt nhất để làm bệnh giảm bớt
là giữ cho tinh thần yên tĩnh, nhẹ nhàng, không lo sợ.
Toàn thân huyết dịch phải lưu thông thoải mái.
Những bộ phận như đầu, cổ, vai, ngực,
hai bên lưng, bụng, bắp đùi, bắp chân đều
cần được dùng phương pháp áp chỉ đả
thông huyệt đạo. Khi kinh mạch huyệt đạo
đều khai thông, huyết dịch tuần hoàn, bệnh
nhân tâm thần trấn tĩnh, làm cho bệnh không phát ra, rồi
từ đó có thể bớt dần cho đến hết.
Về thức ăn nên bớt ăn thịt mỡ,
đường, không hút thuốc, uống rượu,
tránh gia vị chua cay quá. Nên ăn nhiều rau cải
tươi, rau biển, hay cá nhỏ ăn cả
xương.
•
• NẤU THỊ DÊ THEO CÁCH ÂU MỸ VÀ VIỆT NAM
•
• Nếu muốn nấu thịt dê theo kiểu Âu Mỹ
hay Việt Nam, có thể dùng thịt dê thay vào các thứ thịt
khác, trong tất cả các món ăn nướng, bỏ lò,
hay nấu, rán, xào . . .Nếu rán, nướng, bỏ lò hay
nấu cả đùi thịt dê thì không nên ướp muối
lúc thịt còn sống. Vì muối sẽ rút huyết dịch
ra ngoài làm khô xảm chất thịt, chỉ nên cho muối
sau khi thịt đã chín, đã được phong kín chất
nước ở lại bên trong tảng thịt. Thịt
sống kỵ muối, áp dụng với các thứ thịt
khác như thịt bò, heo, gà. Chất nước được
giữ lại bên trong thì khi thịt chín mới mềm,
ngon, ngọt và không khô bã.
•
• CÁC THỨ GLAZE CHO THỊT DÊ:
•
• Glaze là một thứ sauce, không những chỉ làm
tăng gia mùi vị ngon hơn mà còn làm láng, làm đẹp
món ăn. Thường thường glaze được
phết lên thịt trước khi bỏ lò, xong thỉnh
thoảng lại phết lên trong lúc đang bỏ lò, đốt
lửa trên (broiling hay nướng.
• - Apricot glaze: Nửa cốc mứt apricot hòa nhuyễn với
hai thìa lớn rượu vang trắng. Phết lên thịt
dê trong lúc nướng hay đốt.-
• Peach glaze: Dùng một lon đào hộp hâm nóng cùng với
nước đào, cho một phần tư thìa mỗi thứ:
All spices cinnamon, mace và nước đào. Để riêng
đào, dùng nước sauce phết lên thịt, lúc dọn
bày thịt chung với đào.- Orange glaze:
• Nấu một phần tư cốc mamalade cam, trộn
vào 2 thìa mù tạt và một thìa rượu Bourbon Phết
nước sauce này vào thịt lúc đốt hay nướng.
• Cách ướp thịt:
• Marinades (ướp): Dùng sauce marindes để ướp
thịt. Cho thịt vào dĩa sâu, đổ marinade xăm
xắp, ướp vài tiếng đồng hồ hay cách
đêm để trong tủ lạnh, thỉnh thoảng trở
thịt cho thấm đều. Lúc đem ra nấu hay
nường, dùng nước sauce này phết lên thịt,
hay cho vào nấu chung với thịt. Lúc ướp thịt
nên dùng đồ sành và ve chai. Không nên dùng đồ nhựa
hay đồ kim khí, nhất là ướp những thứ
có rượu, giấm, chanh v.v. . .
• Uớp cho các loại thịt:
• Trộn chung nửa cốc rượu vang trắng, một
phần tư cốc giấc, một phần tư cốc
dầu ăn. Một lá “ bay leaf ”, hạt tiêu, một củ
hành nhỏ xắc lát, một thìa canh đường, một
thìa nhỏ muối.
• Ướp chanh:
• Trộn một thìa mù tạt khô, một thìa nước
chanh tươi, một phần tư thìa nhỏ Paprica, một
múi tỏi băm vụn, một phân ba cốc dầu
ăn. Sauce này dùng nướng thịt dê, bò, lợn hay ga
cắt vuông vắn bằng đốt tay, xiên nướng
trên lửa than.
• Tất cả những mẩu chuyện trên đây chỉ
là mạn đàm năm Dê cho vui. Nhất là cái vụ thịt
dê bổ này bổ nọ v..v.. .Nghiên cứu tham khảo là
một việc thú vị. Nhắm mắt tin theo không suy
nghĩ sẽ có thể xảy ra nhiều chuyện không
thú vị tí nào. Hy vọng bạn đọc đừng
tin liều, ăn toàn thịt dê, hậu quả thế nào
xin đừng trách ai cả. Nhất là người
sưu tầm tài liệu hoàn toàn không chịu trách nhiệm.
|