Huyền Thoại
6 - Cẩu Kỷ
Linh Bảo
chuyển ngữ
Cẩu kỷ có rất nhiều tên, và cũng có
nhiều huyền thoại rất huyễn hoặc.
Một trong những huyền thoại kể rằng:
Ngày xưa, rất xưa có một vị quan được
Triều đ́nh cử đi công cán điều tra t́nh h́nh
dân chúng, xem “trăm họ” có được an vui hạnh
phúc không.
Vị quan lănh mạng đi kháp các thôn xóm thăm viếng
dân t́nh đến năm năm công tác mới hoàn tất.
Trên đường về, một hôm ông và đoàn tùy tùng
đến thành phố Thanh Đảo, một thị trấn
gần vùng Tây Hà, nước Lỗ. Đoàn người ngựa
đang đi bỗng nhiên ông thấy hai người đàn
bà đang chạy đuổi nhau trên đường.
Người chạy trước là một bà cụ già tóc bạc
trắng, mồm móm như đă rụng gần hết
răng. V́ chạy nhanh tóc bà xỏa tung xuống lưng c̣ng
gập, dáng điệu mệt mơi, bước chân xiêu vẹo
như gần kiệt lực, trông có vẻ cố gắng
lắm mới khỏi té nhào. Chạy theo bà cụ là một
cô gái độ 15, 16 tuổi. Cô bé mặt mày xinh đẹp
hồng hào. Cô chạy nhanh nhẹn, tay cầm cây gậy, mồm
quát mắng những ǵ không ai nghe rơ. Bà cụ thấy bị
đuổi gần kịp, cất tiếng năn nỉ
xin tha thứ rất thảm thiết.
Vị quan mang sứ mệnh ḍ xét dân t́nh, đâu
đâu cũng thấy b́nh yên, an lạc. Hôm ấy ông
đang vui bỗng nhiên thấy cảnh chướng tai gai
mắt như thế, không thể nào nén giận được
bèn nhảy xuống ngựa đến trước mặt
cô gái trẻ quát hỏi:
- Ngươi là con cái nhà ai? Tại sao lại dám
bất hiếu với bậc trưởng thượng?
Bà cụ kia phạm lỗi ǵ mà ngươi nỡ đuổi
đánh tàn nhẫn như thế?
Cô gái thấy vị quan nổi giận đùng
đùng, lại thấy theo sau ông có vô số lính hầu th́
biết ngay ông là người của triều đ́nh,
đang muốn bắt cô đóng nọc đánh đ̣n trị
tội bất hiếu theo thủ tục. Cô gái không hề
sợ hăi gân cổ trả lời:
- Con bé kia là cháu tằng tôn của tôi. Tôi đánh
cháu của con trai tôi, có ǵ trái phép không?
Vị quan nghe trả lời như thế cho là
cô gái có ư hỗn láo xấc xược với ḿnh, giận
đến nổi râu tóc dựng ngược, quát hỏi:
- Con bé này coi bộ khinh ta ngu ngốc hay sao mà
ăn nói vô lễ! Bà cụ kia già nua như thế, sao lại
có thể là cháu tằng tôn của một con bé trẻ
như mi. Bộ mi coi quan chức của triều đ́nh dễ
bỡn cợt lắm sao?
Nói xong vị quan chưa hết giận rút kiếm
đeo bên lưng ra. Cô gái trẻ thấy thế vẫn
không tỏ vẻ hốt hoảng lo sợ. Cô thong thả
nói:
- Nhà ta trồng hàng mẫu thuốc quí. Ta đă
dùng nhiều năm và đúng cách, nên mới trẻ măi
như thế này. Ai không tin mặc xác! Nếu không dùng vị
thuốc quí ấy th́ ta cũng tóc bạc da mồi, mồm
móm răng rụng, mắt mờ, tai lăng như ai vậy.
Ta sẽ dạy cho ngươi vị thuốc quí nhưng nếu
ngươi không tin dùng th́ mai đây ngươi cũng sẽ
già nua lụm khụm giống như con bé cháu tằng tôn của
ta kia ḱa!
Vị quan già nghe xong bớt giận dữ,
nhưng cũng vẫn c̣n nghi ngờ hỏi lại giọng
ôn ḥa hơn.
- Coi cô bé chỉ độ 15, 16 tuổi, làm sao lại
có thể làm bà Tằng Tổ Mẫu của người ta
được!
Cô bé cười hớn hở trả lời, lễ
phép hơn:
- Tuổi của ta không cần ai biết. Tứ
đại, ngũ đại đồng đường
là chuyện thường. Thực ra nhà có vị thuốc
quí gia truyền cũng chẳng nên giữ bí mật. Cẩu
Kỷ Tử đó mà! Ông nghe ta dạy gắng ăn
được hai trăm ngày, thân thể sẽ rắn chắc,
da cũng tươi nhuận. Ăn tiếp thêm một
năm sẽ khỏe mạnh, thịt chắc gân mạnh,
mắt sáng, ăn hoài khỏe lâu.
Vị quan vẫn c̣n nghi ngờ, nhưng cũng hỏi thêm
cách dùng như thế nào để hữu hiệu và trẻ
đẹp như bà Tằng Tổ Mẫu!
Cô gái ân cần trả lời:
- Tháng giêng đào rễ, tháng hai sắc nước
uống.
- Tháng ba cắt cành, tháng tư sắc uống.
- Tháng năm hái lá phơi, tháng sáu nấu nước uống
thay trà.
- Tháng bảy hái hoa phơi trong mát, tháng tám nấu nước
uống.
- Tháng chín hái quả phơi, tháng mười ăn quả.
Thế là tất cả cây Cẩu Kỷ từ
hoa, quả, lá, cành, gốc rể đều dùng được.
Sắc, nấu, pha, ngâm, tùy loại, tùy mùa, tùy thời tiết,
tùy tạng người, tùy trường hợp hoàn cảnh
mà xử dụng.
Vị quan già nghe thế ghi nhớ rơ. Ông làm theo
lời cô gái “Tằng Tổ Mẫu” dạy bảo, thấy
người khỏe mạnh hơn nhiều, khỏi phải
về hưu sớm. Ông cũng mách bảo cho nhiều
người biết cách dùng nên từ đấy, Huyền
thoại cũng như danh tiếng của Cẩu Kỷ
được lan truyền khắp nơi.
Huyền thoại chung quanh dược thảo Cẩu
Kỷ cũng ghi chép nhiều truyện khác.
Ngày xưa có một cây Cẩu Kỷ mọc bên
cạnh một giếng nước sau ngôi chủa cổ
tên là Khai Nguyên Tự. Cây già không biết đến mấy
trăm năm v́ không ai biết cây đă được trồng
từ đời vua nào.
Cây này nhờ sống bên cạnh giếng gần
mạch nước nên không bị chết trong những vụ
hạn hán mùa khô. C̣n cái giếng cổ cũng nhờ ảnh
hưởng của cây Cẩu Kỷ nên nước biến
thành dược thủy. V́ thế ai cũng gọi giếng
này là Cao Kỷ Tỉnh. Người trong làng mỗi ngày
đều đến giếng lấy nước uống
nên người nào cũng mạnh khỏe, sống lâu, và
cũng v́ thế nên Cẩu Kỷ cũng được gọi
là Cao Kỷ.
Căn cứ theo truyền thuyết th́ một
nơi khác tại Nam Công Thôn, huyện Bồng Lai thuộc tỉnh
Sơn Đông v́ trồng rất nhiều Cẩu Kỷ, nên
dân trong làng cũng mạnh khỏe hơn các nơi khác. Hiện
tượng này được giải thích rằng v́ thức
ăn uống ngũ cốc và nước sông giếng
đều hấp thụ thổ khí và thủy khí đầy
tư nhuận của Cẩu Kỷ nên đất nước
đều trong lành. Trong dân gian cũng truyền tụng một
bài thơ Cẩu Kỷ có ư nghĩa:
“Chùa có cây Cẩu Kỷ
sống bên giếng lạnh.
Nước giếng tinh khiết
là dược thủy
Lá Cẩu Kỷ xanh tươi,
rủ bên bờ giếng đá.
Trái Cẩu Kỷ đỏ thắm,
tươi mát như mái ngói.
Cành Cẩu Kỷ giống gậy
tiên
Gốc già uốn cong h́nh Thụy
Khuyển
Phẩm chất Cẩu Kỷ
như Cam Lộ
Uống một ngụm cũng
được sống lâu thêm”
Nguyên văn bài thơ cổ:
“Tăng pḥng dược thụ
hàn y tỉnh
Tỉnh hữu thanh tuyền
dược hữu linh
Thúy đại diệp sinh lung
thạch trứu
Ân hồng tử thục chiếu
đồng binh
Chi phiền bản thị tiên
nhân trượng
Căn lăo năng thành Thụy
Khuyển h́nh
Thượng phẩm công vi cam lộ
vị
Hoàn tri thất thược khả
duyên linh”
Một vị Nho Y đă dịch
ra quốc âm:
“Cửa thiền hái thuốc có
hay không
Giếng nước bên cây Kỷ
Tử hồng
Ngành vút gậy tiên như giống
giả
Gốc già hóa chó khéo h́nh dung
Xanh rờn lá rậm quanh thành giếng
Đỏ ối hoa tươi
dưới bóng đồng
Một chén thuốc tiên thêm tuổi
thọ
Nhớ ơn người
trước biết bao công”
Điển tích “gốc già hóa chó” là do truyền thuyết
nói rằng ngày xưa có mấy vị nho Y một hôm rủ
nhau vào núi t́m thuốc. Họ thấy bên cạnh khe suối
có một bụi cây gai góc rậm rạp, trên cành nặng
chĩu hoa tím, quả đỏ rất xinh đẹp.
Đang măi ngắm bỗng thấy một con chó lớn
đuổi hai con chó nhỏ, đùa giỡn chạy nhảy
tung tăng rất thích thú. Trông thấy người, cả
ba con chó đều nhảy xông vào bụi cây to rậm ấy
và biến đâu mất không chạy ra nữa.
Các vị
Nho Y lấy làm lạ v́ biết bụi cây rậm ấy là
cây Cẩu Kỷ già đến hàng trăm năm mới cao
lớn như thế. Họ đào gốc cây thấy rể
cây to chằng chịt giăng rộng, trong đám rể lớn
có một số giống h́nh chó lớn, chó con, y hệt
như ba con chó vừa chạy đuổi chơi đùa với
nhau. Biết rể cây này đă quá già nên biến thành Thụy
Khuyển linh dược, bọn họ đào lên đem về
chia nhau nấu nước uống, và từ đấy,
cũng theo truyền thuyết, họ thấy thân thể nhẹ
nhàng, khoan khoái không c̣n bệnh tật nên cuộc sống vô
cùng hạnh phúc.
DƯỢC THẢO CẨU KỶ ( Lycium Sinense
Mill )
Mặc dầu Cẩu Kỷ là một vị thuốc
bổ nhưng trong dân gian vẫn thường dùng trong bữa
ăn. Lá nấu canh, hoa pha trà, quả ngâm rượu.
Cây Cẩu Kỷ sau khi lớn, cành mọc ra tua
tủa giống như cây gậy nên cũng có tên là Tiên Nhân
Trượng. Truyền thuyết cũng nói rằng, ngày
xưa các đạo sĩ nghiên cứu chế thuốc
trường sinh, Cẩu Kỷ vẫn là vị chính,
nhưng được giữ bí mật để dùng
riêng cho ḿnh.
Ngoài ra Cẩu Kỷ cũng là một vị thuốc
có rất nhiều tên trong dân gian cũng như trong các sách
dược thảo.
Cây cao độ hơn hai thước. Trồng
bằng cách cắt cành hay gieo hạt. Mùa hoa từ tháng
sáu đến tháng chín Mùa quả từ tháng bảy
đến tháng mười. Kỷ Tử là quả chín
sấy khô.
Cây trồng sau ba năm có thể thu hoạch,
thời kỳ cao nhất vào năm thứ mười. Cây
thường sống có thể đến hơn 30 năm.
Cẩu Kỷ mọc khắp vùng Đông Nam Á, thích nhiệt
đới ấm áp. Cây mọc hoang ở những nơi gần
bờ sông, khe suối. Các tỉnh Quảng Đông Quảng
Tây, Vân Nam ở Trung Hoa và các nước Nhật Bản, Đại
Hàn đều có trồng đại quy mô để làm thuốc.
Theo tài liệu cổ, Cẩu Kỷ Tử có vị
ngọt, tính b́nh, không độc, đi vào ba Kinh Phế, Can
và Thận. Tất cả các bộ phận rể, cành lá, quả
đều dùng được.
Tác dụng bổ gan thận, nhuận phổi,
mạnh gân cốt, dùng chữa chân tay yếu, mỏi, mắt
mờ, dạ dày yếu.
Địa cốt b́ (tức là vỏ và rể
cây sấy khô): vị ngọt, tính hàn, đi vào bốn Kinh
Can, Thận, Phế và Tam Tiêu. Có tác dụng lương huyết,
tả hỏa, thanh phế nhiệt. Dùng chữa ho ra máu, phiền
nhiệt, tiêu khát, lao nhiệt ra mồ hôi, nhức
xương. Người tỳ vị hư hàn không dùng
được.
Ngày nay Cẩu Kỷ được coi là một
trong những thứ thuốc bổ quan trọng. Nhất
là những thuốc chữa thận tạng thông thường.
Xương cốt, đau nhức mơi mệt – Tính dục yếu
kém, chóng mặt,mắt kém . . .
Điều quan trọng có thể làm cho người
ta bối rối là luận về Cẩu Kỷ, các sách ghi
chép nhiều tính chất trái ngược, dễ bị hiểu
lầm: Ví dụ Cẩu Kỷ tính b́nh và hàn, ngọt và
đắng vừa bổ âm vừa bổ dương. Chữa
cao và thấp huyết áp, và đi lên được, đi
xuống cũng được. Cũng như chỉ một
cái tên mà mùa xuân gọi là gọi là Thiên Tinh Tử, màu hạ
gọi là Cẩu Kỷ Diệp. Mùa thu gọi là Khước
Lăo, đến mùa đông lại gọi là Địa Cốt
B́.
Tham khảo các sách nói về Cẩu Kỷ, nếu
ghi lại tất cả phải viết riêng một cuốn
sách mới đủ, nên chỉ tóm lược một vài ư
chính để t́m hiểu những mâu thuẫn:
- Cẩu Kỷ vị hơi cay, khí hơi ấm,
mà cũng mát: Đặc tính này làm cho Cẩu Kỷ lên
được mà đi xuống cũng được.
- Cẩu Kỷ bổ Dương và Âm: Cẩu Kỷ
vị trọng mà thuần túy nên bổ âm, v́ c̣n có tính cách
trong âm cũng có dương nên bổ được khí.
Trị cao, thấp huyết áp: Cẩu Kỷ v́
bản chất trung ḥa đi lên hay xuống đều
được, bù đắp chỗ thiếu thốn, giảm
khí quá mạnh nên điều chỉnh được huyết
áp, làm cho người cao hay thấp huyết áp đều
dùng được.
Điều quan trọng là mặc dầu Cẩu
Kỷ Tử sắc đỏ nhưng không phải thuộc
dương. Khí chính của nó là hàn, nên không thể bổ
dương được. V́ thế người có bệnh
hư hàn mà dùng nó, th́ càng hư thêm, quá nặng có thế biến
thành hoạt thoát, tiết tả tháo chảy không cầm
được.
V́ thế mặc dầu Cẩu Kỷ Tử nổi
tiếng đến nỗi người xưa có câu: “Khứ
gia thiên lư nhân vật phục”. Nghĩa là người đi
xa gia đ́nh ngh́n dặm chớ dùng, v́ dược tính
bổ rất mạnh, làm khơi động t́nh dục.
Nhưng nếu cứ nhắm mắt tin theo,
người Tỳ Vị hư, yếu kém thủy
hàn, thổ thấp, trường vị trơn tuột,
đại tiện tháo hoạt, cũng tưởng bổ
mạnh là tốt, mà dùng nhiều th́ càng sinh tiết tả
và suy nhược thêm.
RƯỢU CẨU KỶ:
Cẩu Kỷ Tử khô hay tươi giă nhỏ,
ngâm rượu ngon độ một tháng. Dùng mỗi ngày một
hay hai ly nhỏ.
Lúc uống kiêng ăn su hào, hành, tỏi, củ cải.
Tác dụng: Bổ lao nhiệt, làm mạnh gân thịt.
Muốn trị gan yếu, chảy nước mắt, thêm
Sinh Địa vào rượu.
CẨU KỶ CAO:
Cẩu Kỷ Tử cho vào b́nh chai ngâm với dấm
rượu, đậy thật kín. Sau hai tháng, cho vào chậu
men dằm nát nhừ, gạn lấy nước cốt,
thêm rượu một phần ba. Nấu lửa nhỏ quấy
luôn tay. Cao đặc lại dẻo như kẹo mạch
nha. Cho vào b́nh chai để dành. Mỗi sáng, tối dùng một,
hai th́a.
Tác dụng: Tăng khí lực – bồi bổ tươi nhuận
khí sắc.
CHÁO CẨU KỶ:
Ngâm một nắm Cẩu Kỷ Tử khô vào
nước cho nở ra. Xong cho vào nấu chung với cháo
gà. Có thể dùng với bất cứ cháo ǵ, dùng với
nước xúp xương heo càng tốt.
CẨU KỶ CHƯNG THỊT GÀ:
Cẩu Kỷ Tử cho vào nồi chung với thịt
gà, vài lát gừng nấu sôi vớt bọt: Dùng tô sành có nắp cho
gà, Cẩu Kỷ, gừng nấm hương đă ngâm mềm
vào tô, chưng cách thủy lửa nhỏ, cho đến khi
thịt gà thực mềm. Tác dụng cũng như cháo Cẩu
Kỷ.
Lá Cẩu Kỷ dùng nấu canh như rau thường
hay nấu nước uống có tác dụng sáng mắt,
da hồng hào, trừ phong nhiệt ngoài da.
