Một Chuyến Hành Hương
Vô Tích. Một địa danh không mấy ai nghe tiếng. Ngay cả trong những cuốn Chỉ Dẫn. Vô Tích cũng bị liệt vào những địa phương " Không có gì đáng nói" trên bình diện du lịch cũng như thắng cảnh. Nhưng từ năm 1996, Vô Tích đã có Linh Sơn Ðại Phật, một kiến trúc cận đại, là một pho thượng Thích Ca Mâu Ni bằng đồng cao 88m, nặng 7 tấn, được xây trên một ngọn đồi nhỏ, biến Vô Tích thành một nơi hấp dẫn khách du lịch và trong hiện tại đã hấp dẫn được phái đoàn hành hương chúng tôi đến tham bái.
Lên đến chân đức Phật gần như không còn ai khác ngoài phái đoàn 85 người. Phái đoàn đông quá nên chỉ cần đến nơi nào là gần như nơi ấy không còn chỗ đứng nữa. Vô Tích là nơi tham bái cuối cùng của chuyến hành hương, sau Vô Tích là có thể xếp áo tràng cất được rồi. Do đó đến Vô Tích là một phần lớn đoàn viên đã nhuốm bệnh và đã kiệt quệ, trong đó có tôi.
Trước pho tượng Bổn Sư lớn như vậy, điều duy nhất tôi muốn làm là phủ phục xuống lạy, lạy cho đến khi không còn sức nữa mới thôi. Lúc ấy tâm hồn tôi sẽ vô cùng khoan khoái, hân hoan vì đã thắt thêm chặt mối dây liên hệ giữa mình và đức Phật, và mối dây liên hệ ấy sẽ dẫn dắt tôi, nhiếp hộ tôi, chở che tôi trong đời này và muôn đời sau trên con đường tu tập. Nhưng tôi không còn đủ hơi thở để làm việc ấy nên đành thành kính đi từng bước, từng bước thật chậm nhiễu xung quanh Ngài theo thể thức ấn Ðộ để bày tỏ lòng cung kính.Tôi cố gắng ngửa cổ lên để chiêm ngưỡng tôn nhan Ngài, và bỗng nghĩ rằng căn cứ theo cuốn sách nói về sự chết của Tây Tạng, giờ phú lâm chung khi chư Phật và chư Bồ Tát đến tiếp dẫn, có lẽ mình cũng sẽ thấy các Ngài vĩ đại như vậy, tôn nghiêm như vậy. Nếu không tập quán cho quen thì đến giờ phút ấy sẽ kinh hoàng trước sự vĩ đại và tôn nghiêm này và dễ bị lôi cuốn vào những nẻo tái sinh không tốt. Do đó tôi phải tập những thế đứng xứng đáng biểu diễn trong gánh xiếc để nhìn thấy Ngài cho rõ.
Xung quanh tôi, mỗi người "sống" theo lối riêng của mình sự tiếp xúc với Ðại Phật. Kìa một Bác cứ mấy bước lại sụp xuống lậy một lạy. Hình như Bác ấy lớn tuổi nhất đoàn và đây có thể là lần cuối Bác đi theo một phái đoàn hành hương. Bác nghĩ gì trong đầu mỗi lần sụp xuống lạy như vậy? Bác có đang chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ sắp đến với các Ngài không? Bác có sợ không? Và chúng tôi có lầm lẫn không khi nghĩ rằng mình còn nhiều thì giờ trước mặt để chuẩn bị cho giờ phút lâm chung? Biết đâu chính tôi sẽ gặp chư Phật truớc Bác không chừng...
Mỗi người bày tỏ lòng cung kính đối với chư Phật. Có người lạy không ngừng nghỉ, không biết mệt, cặp mắt chân thành ngước lên nhìn đức Phật như cầu mong sự chứng minh. Có người thực hiện tam bộ nhất bái. Có người cũng đi nhiểu như tôi, và mỗi người đắm chìm trong thế giới nội tâm của mình.
Bức tượng vĩ đại này gợi lại cho tôi hình ảnh pho tương ngài Quan Âm ở Phổ Ðà Sơn, cao 33m, đứng nghiêng nghiên nhìn xuống chúng sinh. Pho tượng này cũng mới đuợc xây lên thôi, năm 96 mới chỉ có sơ đồ mà thôi. Ngày ấy chúng tôi còn sức sung mãn, nên cả đoàn thực hiện tam bộ nhất bái, cứ ba bước lại cúi xuống lạy 1 lạy.
Ngày xưa chư Tổ còn thực hiện nhất bộ nhất bái trên một đoạn đường rất dài. Tôi mang ơn thầy Nhất Chân đã dạy cho chúng tôi làm điều ấy, đã dạy cho chúng tôi những tác phong và thái độ của người Phật tử chân chính. Rõ ràng là sau khi đã lễ bái, cúng dường, thì mối liên hệ của người Phật tử đối với đối tượng lễ bái cúng duờng ấy có phấn cung kính hơn, gần gủi hơn. Và niềm tin nơi đối tượng ấy thâm sâu hơn. Ðó cũng là một trong vô số những ích lợi của việc đi hành hương.
Trên dảo Phổ Ðà, hình ảnh ngài Quan Thế Âm phảng phất ở tất cả mọi nơi, từ trong tâm mỗi người trở đi. Trong đoàn ai cũng thấy Phổ Ðà Sơn là nhà của mình, có lẽ vì khách sạn ở gần chùa Phổ Tế nên mạnh ai nấy dập dìu lai vãng khung cảnh chùa ấy một cách thân mật, như con cái về nhà bố mẹ, ra vào tự do, không cần phải khách khí, ngại ngùng.
Lạy Phật xong, bèn làm một vòng ở các " xạ trường" xung quanh, tượng gỗ rất nhiều đủ kiểu đủ dạng, chỉ có thiếu " đạn dược" để " bắn" thôi (người nào đã đi hành hương cũng quen với loại tiếng lóng này. Xạ trường = phố mua bán, đạn dược = tiền, và bắn = mua, thỉnh).Từ Thượng Hải, chúng tôi lấy tàu tốc hành đến đảo, thầy trò bị nhồi sóng sanh máu mặt, cô Diệu Trạm bày cho lấy một viên Aspirine bỏ vào rốn rồi lấy băng keo dán lại thì khỏi bi say sóng, không biết có phải nhờ cái mẹo ấy không, mà tôi không đến nổi thê thảm như phần đông các bạn đồng hành. Lại nhờ đêm trước thức tới 2 giờ sáng nên lên tới tàu là ngủ li bì, nhờ thế không bị say sóng chăng?
Nhưng say thì say, đến tới đảo rồi là phải tìm cái để bắn. Thiên hạ thỉnh đuợc tượng đức Quan Âm rất đẹp, nào tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, nào tượng Từ Phụ (đức Phậ A Di Ðà theo tiếng gọi của chị Trang), còn tôi thì đi theo để giúp thiên hạ trả giá nhờ bập bẹ đuợc dăm ba tiếng Tàu.
Nhưng tuy công nhận tượng của các bạn đẹp thật, tôi chưa nghe lòng "thổn thức" trước một bức tượng nào, nên bèn khấn Ngài Quan Âm "cho con gặp một bức tượng của Ngài thật đẹp, vừa sức của con, để con đem về Paris lễ lạy cúng dường". Tôi nghĩ rằng tượng của Ngài Quan Âm phải thỉnh ở Phổ Ðà Sơn mới có nghĩa lý, sau này ở Hàng Châu, Tô Châu tuy có tượng đẹp nhưng nghĩa lý không bằng.Hữu cầu tất ứng, chiều hôm đó tôi nhièn lên khuôn mặt Ngài trong một cửa tiệm nhỏ, và biết rằng mình đã gặp Ngài rồi. Tập khí tiểu thừa hãy còn, tôi không dám nghĩ tới chuyện thỉnh tượng to, phần thì vì đạn dược đã kiệt quệ, phần vì sợ phải xách nặng và lố ký.
Nhưng thầy Nhất Chân bảo là đã thỉnh tượng thì nên thỉnh tượng cho to để quán cho rõ. Khi ôm Ngài trong tay, tôi rưng rưng nước mắt, rõ ràng là Ngài giống như một bà mẹ vô cùng thương con, con cầu xin điều chi cũng chìu ý, không những cho nó những gì nó xin mà còn cho nhiều hơn thế, đẹp hơn thế, cho đến mức mà nó không dám tưởng tượng.
Nói tới chuyện lố ký, đó là vấn đề chung của đoàn trong suốt chuyến đi. Ai cũng bị vấn đề đó cả, phần vì đem theo quá nhiều đồ đạc không cần dùng tới, phần thì mua thêm quá nhiều thứ có lẽ cũng sẽ không cần dùng tới. Ðó là kinh nghiệm cho những chuyến đi sau, máy bay nội điạ chỉ cho phép có 20 ký, và cứ lố một ký là phạt 14 nguyên (gần 2 đô la). Chưa kể số lượng kiện hành lý cứ theo đó mà tăng lên, mỗi lần đến một khách sạn mới là thì giờ chờ hành lý chiếm trọn cả buổi tối.
Cô Diệu Trạm nẩy ra 1 ý kiến đánh số từng kiện hành lý và đưa cho người khiêng một bảng tên với số phòng và số của hành lý, thế là yên. Nhưng lại không biết làm sao để đánh dấu hành lý, ban đầu viết số bằng phấn lên một vài chỗ trên hành lý, nhưng phấn rất mau phai, gắn nhãn hiệu thì nhãn hiệu lại dễ mất, chưa kể một số người còn lưỡng lự không biết nên gởi hay nên xách tay kiện hành lý này hay kiện hành lý nọ, nhức cả cái đầu. Nhưng không thể nào ngăn những "xạ thủ" thiện nghệ tiếp tục " bắn", vì có những "xạ trường" cầm lòng không đậu được! Cuối cùng, chỉ có mấy cô làm phòng trong khách sạn là lời, vì càng về sau thiên hạ càng bỏ bớt đồ đạc, tha hồ lượm!
Trước khi đi, tôi được biết là sư ông Minh Tâm đã tỏ ý lo ngại không biết đoàn đông như thế có xẩy ra chuyện đụng độ gì không, nhất là giữa cường quốc Mỹ và cộng đồng kinh tế Âu Châu!
Ban đầu tôi cũng có cảm giác là hai bên cũng nhìn nhau đọ sức, và cùng áp dụng câu "đời ai nấy sống". Nhưng hình như chư Bồ Tát quyết định khác. Ðêm lấy xe lửa đêm di chuyển từ Bắc Kinh đến Ðại Ðồng, phái đoàn Mỹ bị rơi vào một toa xe xui xẻo, vì lên đến toa thì thấy rằng chỗ của mình đã có mấy ông bà người Tàu chiếm đóng và ngủ say rồi! Kêu réo tên hướng dẫn viên toàn quốc cũng như không, tên này bị mắc cái bệnh lười trầm trọng nên hắn chỉ muốn chúng tôi ngủ đại dưới đất giữa hành lang và để yên cho hắn (may mắn thay sau Ngũ Ðài Sơn thì tên này bị cách chức, nhường chỗ cho một anh chàng khác rất tốt, và có lương tâm). Nhưng nhìn mấy Bác ngồi chờ một cách kiên nhẫn, chịu đựng, tôi phải " thị hiện tướng phẫn nộ", la om sòm lên bắt hắn phải thuơng lượng với nhà chức trách của xe lửa. Khổ thay chúng tôi được chứng kiến sự bất động, ù lì và vô hiệu quả của cách làm việc của một nước cộng hòa nhân dân chủ nghĩa! Cuối cùng một sợi dây thân ái được đúc kết giữa những người trong đoàn, một số người phải chia nhau chỗ nằm tức là hai người chất lên trên cái giường nhỏ xíu của xe lửa, một số người khác phải đành lòng chia phòng với mấy ông con trời đang ngủ ngon lành trên giường của chúng tôi. Và cuối cùng một số "phiêu lưu" xuống toa hạng nhì để thấy rõ sự may mắn của mình khi được ở khách sạn 4, 5 sao, trong suốt quãng hành trình còn lại, giữa mấy ông con trời suốt đêm khạc nhổ, hút thuốc phun khói phì phì, và nhất là nói chuyện tình với nhau mà nghe như sắp bóp cổ nhau tới nơi! Thầy Nhất Chân an ủi chúng tôi và bảo là "hành hương thường có gía phải trả của nó".
Hôm sau, lắng tai nghe xem có bị "dũa" không, thì không nghe một tiếng than vãn nào hết, không một lời trách móc nào cả. Thì ra tất cả mọi người đã thấm nhuần "tinh thần hành hương". Tôi thầm nhủ, đây là những người có lẽ chưa bao giờ bị đối xử như thế ở xứ của họ, thế mà họ không có một thái độ nào phản kháng, thật là đáng phục lắm thay! Có qua một cơn "bỉ cực" với nhau rồi mới thân nhau hơn, thế là từ đó trở đi đại cường quốc Mỹ châu và cộng đồng kinh tế Âu Châu gặp nhau là toe toét cười thân mật.
Trước khi đi mỗi người đuợc phát cho một cuốn kinh do thầy Nhất Chân tự tay soạn thảo đặc biệt cho chuyến hành hương. Tới chỗ nào thuận tiện là cả đoàn mặc áo tràng đứng tụng kinh, với sự đồng ý của những nhà chức trách địa phương.
Có những chỗ tụng rất là hữu tình và khắc sâu vào tâm khảm Phật tử, thí dụ như ở Phổ Ðà Sơn. Ðối diện chúng tôi là một dãy núi có hình dáng giống như một người nằm, người Tàu bèn nói đó là Ngài Quan Âm nằm. Nhưng nhìn kỹ, chúng tôi lại thấy giống như khuôn mặt của Ngài thì đúng hơn, và chúng tôi hướng về dãy núi ấy mà tụng kinh. Quý Thầy Cô đứng trong một cái đình nhỏ, còn Phật tử muốn đứng đâu thì đứng, tôi tìm đuợc một tảng đá bằng phẳng, có thể ngồi và quỳ lạy thoải mái. Ở các núi như Cửu Hoa hay Nga Mi, chúng tôi đuợc tụng kinh ngay điện thờ hai vị Bồ Tát Ðịa Tạng và Phổ Hiền!Ở Ðại Phật Lạc Sơn, ban đầu Thầy Nhất Chân dự tính cho phái đoàn lên trên bàn chân Phật để tụng kinh, vì bàn chân Phật đủ rộng cho 85 người vừa quỳ vừa lạy, vừa đứng, vừa ngồi thong thả. Nhưng muốn trèo lên trên ấy, nếu không có thần thông thì phải hoặc là có thang, hoặc là đánh đu kiểu con cháu Tôn Ngộ Không.
Nhưng thang tìm không có, và các bác, các cụ không thể nào đánh đu được, nên cuối cùng quyết định quy tụ trước mặt đức Phật để mà tụng. Trời hôm ấy rất nóng, nóng đến nỗi chỉ quẹt tay ra sau gáy là bàn tay ướt đẫm. Ðang tụng kinh, bỗng tôi nghe một luồng gió mát thổi đến, xoay lại tìm vị đạo hữu nào phát tâm cho tôi hưởng ké gió quạt để cám ơn, thì không thấy ai cầm quạt cả. Tụng kinh xong anh Hải hỏi;" hồi nãy có ai nhận thấy điềm lành không?" Ðang ngần ngừ, anh ấy nói tiếp "Ðang tụng kinh tự nhiên có gió thổi cho mát đó!". A, thì ra đó là một điềm lành. Mà tại sao lại không? Ðại Phật là nơi bao nhiêu người đến lễ bái, là nơi tập trung của bao nhiêu tấm lòng tin tưởng và quy ngưỡng. Thì sự linh thiêng của một nơi như vậy có gì là lạ? Hẳn nơi đây cũng là nơi chư vị hộ pháp cũng quy tụ về. Nếu các ngài thương hại phái đoàn đang nóng bức mà gởi đến cho một luồng gió, có gì là lạ? Ở thờ đại này người ta không tin vào "phép mầu" và "điềm lành" nữa. Nhưng đứng trên đất thánh thì điều đó bỗng trở nên rất dễ hiểu và dễ tin. Như hiện tượng lư hương bỗng dưng phực lên cháy bừng bừng lúc phái đoàn đang đứng tụng kinh dưới chân tượng đức Phật nhập Niết Bàn ở Thiên Tháp Phật Quốc. Sự kiện xẩy ra quá đột ngột khiến ai nấy đều giật mình, và trong khung cảnh ấy, trong bầu không khí ấy, không thể nào không nghĩ đến một sự hiện hữu siêu nhiên đang ủng hộ, gia trì hay chứng minh cho chúng tôi.Trong lúc anh Hải đang vui vẻ kể chuyện " điềm lành" cho mọi người nghe, chị Châu, vợ anh ấy gật đầu biểu đồng tình. Chị Châu là một nhân vật mà nghĩ đến, không ai là không cảm phục. Ở Ngũ Ðài Sơn, phải trèo khá cao mới đến đuợc chùa Quán Ðảnh. Ðang trèo thì nghe tiếng kêu lên" Bác sĩ Ðức! Xin gọi bác sĩ Ðức, có người bệnh!", và anh chàng bác sĩ Phật Tử xách túi chạy bay về phía có tiếng gọi.
Sau này mới biết người bệnh là chị Châu, lên tới nửa đường thì khó thở, bệnh tim bộc phát. Từ đó trở đi, mỗi lần phải trèo cao, một quanh cảnh rất thường được chúng kiến là chị Châu chậm chạp bước từng bước đi trước, tay cầm tràng hạt, môi mấp máy niệm Phật. Anh Hải đi theo sau quạt cho chị ấy, và không xa, anh chàng bác sĩ Ðức vừa đi vừa canh chừng chị ấy. Vậy đó mà không có chỗ nào mà chị ấy không lên tới, dẫu cao đến đâu: Cửu Hoa Son với hằng trăm bậc thang, Nga Mi Sơn đến tận Kim Ðỉnh, Thiên Tháp Phật Quốc, Vô Tích v.v.... Khi được thầy Nhất Chân đọc cho câu kệ ở Nga Mi Sơn " Thệ đăng tuyệt đỉnh bất tử lao" (thề lên đến tuyệt đỉnh không ngại lao khổ), tôi nghĩ câu ấy áp dụng rất đúng cho chí nguyện của chị Châu).Dĩ nhiên là tôi tùy hỉ ngay công đức (tội gì bỏ qua một cơ hội quý báu như thế để có công đức), nhưng đồng thời trong tâm dâng lên một tình cảm tri ân. Tri ân những người bạn đồng hành yếu đuối, bệnh hoạn, già nua, mà vẫn không " tử lao" để lên đến tuyệt đỉnh, để được khấu đầu dưới chân chư Phật hay chư vị Bồ Tát, làm gương cho mình.
Nói về những pho tượng Phật vĩ đại mới được tạo dựng lên sau này (thập niên 90), ban đầ tôi nghĩ những tôn tượng như thế được chính phủ Trung Hoa cho phép xây để lôi cuốn du khách, nhất là những du khách Trung Hoa lắm tiền từ Ðài Loan, Hồng Kông hay những China Town tứ xứ, thì chỉ có giá trị nghệ thuật thôi chứ làm sao đã có được lực nhiếp hộ như những bức tượng tầm vóc Lạc Sơn Ðại Phật, không những do một vị cao tăng tạo dựng mà còn có hằng bao nhiêu thế hệ đã đến đấy lễ lạy.
Nhưng tôi nghĩ lầm. Bất cứ khố đồng, khối sắt, khối đất hay khối gỗ nào, một khi đã mang hình dáng một tôn tượng Phật hay Bồ Tát, thì đều có được năng lực gia trì và hộ niệm. Người Phật Tử nào cũng cảm nhận được năng lực huyền diệu ấy, mà bằng chứng cụ thể nhất là họ có thể đứng trước một tôn tượng như thế đảnh lễ hằng trăm lễ mà không biết mệt. Ðó cũng là một "hiện tượng", nếu không làm thử thì không thể hiểu được.Do đó khi nghe tin tôn tượng ngài Ðịa Tạng đã bắt đầu khởi sự xây tại Cửu Hoa Sơn, một bức tượng cao 99m, mà chỉ nhìn mấy cái đồ hình thôi, là ai nấy đã tấm tắc khen đẹp, chúng tôi vô cùng nôn nóng.
Lên đến chùa Hồi Hương Các, gặp ngài Huệ Quang, ngài cho biết bức tượng Ngài Ðịa Tạng bằng gỗ của chùa, 3 năm trước còn ngồi ngoài sân, che phủ bằng vài tấm ni lông, nay đã có điện thờ trang nghiêm và 2 bên là Ngài Văn Thù, Phổ Hiền. Nay ngài có ý định quyên góp để thỉnh cặp đèn quang minh cúng dường tôn tượng ấy. Nghe nói thế, phái đoàn muôn người như một, đều thò tay vào hầu bao móc ra, kẻ ít người nhiều và chẳng bao lâu, số tiền được quyên góp đầy đủ. Chúng tôi reo hò mừng rỡ khi nghe tin ấy, và hẹn nhau thế nào cũng phải trở lại Cửu Hoa Sơn để chiêm ngưỡng cặp đèn mà mình có góp phần cúng dường, dẫu phần ấy nhỏ nhoi tới đâu. Dĩ nhiên là phần cúng dường cho tôn tượng Ngài Ðịa Tạng cao 99m cũng nhiều, vì bây giờ thì ai nấy đều thấy phải "kiếm chút công đức cho có phước". Phần đông người Phật Tử hay nghĩ rằng nếu làm gì để cầu phước là có tâm tham lam, không tốt, việc làm sẽ không có công đức nữa. Nhưng thầy Nhất Chân đã nhiều phen nhắc nhở rằng nghĩ như thế là sai. Công đức rất cần, muốn được phải học đạo, muốn làm Phật sự đều cần phải có công đức, nghĩa là phải có phúc. Người có phúc như một anh nhà giàu, có chuyện chi cũng giải quyết dễ dàng vá mau chóng. Người vô phúc như một anh chàng cùng dinh, lúc nào cũng lúng ta lúng túng, gặp chuyện nhỏ cũng trở thành to, khó khăn nào cũng không vượt qua nổi. Phái đoàn chúng tôi nhờ những lời nhắc nhở quý báu đó nên người nào cũng trở thành kẻ "bòn phước"!Cũng nhờ như thế mà những câu trong kinh nói về công đức vô lượng của sự đúc tượng, dựng chùa trở nên sáng tỏ hơn. Lần này phái đoàn có duyên thỉnh được nhiều tượng Phật và Bồ Tát ở các đạo tràng hay cả ở những "xạ trường" không chờ đợi. Tôi có cảm giác, như Hà nói là "dưới chân bức tượng nào cũng có tên người sẽ thỉnh", cho nên mỗi người, trước một bức tượng nào đó bỗng xao xuyến, rung động và nhất quyết thỉnh cho được (giống như bị "tiếng sét ái tình" không khác!).
Và có nhiều tượng đặc biệt đẹp, nhìn vào bức tượng không thể không đặt câu hỏi, người đã khắc một bức tượng như thế phải là người như thế nào, tin tưởng như thế nào, mới diễn tả được một vẻ mặt linh động, có hồn đến dường ấy! VÀ công đức của người ấy hẳn là nhiều lắm, kiếp sau sinh ra hẳn sẽ đẹp, sẽ hảo tướng đến nỗi hoa hậu thế giới cũng chỉ đáng làm...a hoàn cho họ mà thôi!Có nhiều người bị "sét đánh" nhiều lần và lần nào cũng xiểng niểng, trong số ấy có thếy An Chí, thầy Hạnh Vân và nhất là thầy Nguyên Lộc, không kể những người âm thầm lặng lẽ không chuông, không trống, nhưng một hôm chưng bày gia tài sự sản của mình ra thì cả đoàn đều trố mắt khâm phục. Nhất là mấy vị bên Mỹ, phước đức nhiều nên đạn dược nhiều, cúng dường nhiều, nên phúc đức nhiều, như cái vòng xoay hoài bất tận. Biết như vậy thì quả thật không nên coi thường công đức.
Công đức là một đề tài mà thầy Nhất Chân không ngừng nhắc nhở trong các bài giảng của Thầy. Thầy đã tô điểm nguyên chuyến hành trình bằng những bài giảng có liên quan tới các vị Bồ Tát mà chúng tôi đến đảnh lễ, hoặc ngay tại đạo tràng của các Ngài, hoặc trong lúc di chuyển đường dài trong xe. Phái đoàn đông nên chia làm hai xe, xe "pháp" và xe "mỹ", tên gọi theo xuất xứ của đa số những người ngồi trên xe ấy. Thầy thay đổi xe để giảng, và nhất là để chia đều sự có mặt của Thầy cho người trong phái doàn có cơ hội gần gũi.
Cô Diệu Trạm không ngại tổn phí, mướn cho phái đoàn những căn phòng họp có micro, có máy phóng thanh, để mọi người ngồi nghe giảng cho được thoải mái. Trong những bài giảng của Thầy, đề cập nhiều đến hạnh nguyện và hoạt động các vị Ðại Bồ Tát, và đồng thời chỉ dẫn cách suy nghĩ, hành vi cư xử của các vị đang tập tễnh học phát tâm Bồ Tát. Trong phái đoàn, hẳn cũng đến 90% là đã thọ Bồ Tát giới, nhưng lúc nào cũng cần được nhắc nhở những điều mình đã thệ nguyện. Có những vị thọ Bồ Tát giới vì đã thấm nhuần tư tưởng đại thừa, làm gì cũng vì chúng sinh. Còn có những người đã thọ vì "điếc không sợ súng", tập khí tiểu thừa còn nặng (trong đó than ôi! có tôi), thấy có nhiều " đấng" chung sinh là chỉ muốn kính nhi viễn chi cho thật xa chứ đừng nói là nhào vô "độ", nhưng lại biết rằng nếu không đi theo con đường ấy thì không còn con đường nào khác để đi, nếu không muốn nổi trôi theo làn sóng nghiệp đưa đẩy từ kiếp này sang kiếp khác, bềnh bồng như lục bình trôi sông. Thành phần thứ hai này rất, rất cần được thầy nhắc nhở, chỉ bày, khai thị bằng những bài thuyết pháp mang nặng tính chất từ bi ấy. Dĩ nhiên đi chùa, tụng kinh, thọ giới, không có nghĩa là ngày một ngày hai mình trở thành một ông hay một bà thánh. Biết bao nhiêu lần tôi đã nghe cậu "đi chùa mà như thế đấy hả?" để chỉ trích một quan niệm, một câu nói hay một thái độ nào đó của người đi chùa. Bỗng dưng, mỉa mai thay, người không đi chùa và không tu thì có quyền thả lỏng cho bao nhiêu thói hư tật xấu hiển bày, rồi còn tự cho mình cái quyền chỉ trích người đi chùa, nếu những người này làm giống mình. Không chịu hiểu cho rằng người đi chùa là những người cũng còn phải cố gắng để tự sửa đổi, để đạt đến chỗ thánh thiện của chư Phật và chư Bồ Tát, và trên đường đi cũng có lúc vấp ngã chứ.Nếu phải kể lại chuyến hành trình tỉ mỉ từng chi tiết thì không thể nào trong một vài trang mà kể hết được. Có những điều đánh mạnh vào tâm khảm của người hành huơng ngay tại chỗ (thí dụ những lúc được lễ bái Xá Lợi Phật), và còn có những điều đã vào trong tạng thức và lâu ngày chày tháng sẽ ảnh hưởng, sẽ thay đổi con người từ từ lúc nào không biết.
Cũng như mỗi người trong đoàn là một người bạn, là một câu chuyện dài, là một hình ảnh đặc biệt. Sự có mặt của quý thầy, quý cô, quý chú đã làm cho phái đoàn hùng hậu và nổi bật so với các phái đoàn du lịch khác. Như ở Vạn Lý Trường Thành, một người đã nhìn thầy Nguyên Lộc tò mò hỏi "sao ông lại ă mặc kỳ quái như thế?".
Khi đươc giải thích rằng bộ quần áo kỳ quái ấy là y phục của một ông thầy tu, cô ta bèn xin chụp hình với thầy. Ðối với người trong phái đoàn, thì sự có mặt của chư tăng ni cũng là luồng gió mát dập tắt sự mệt mỏi của mỗi người. Một thí dụ nhỏ, trong những lúc trời nóng như nung, chỉ cần nhìn quý thầy, quý cô, thản nhiên trong bộ y áo vàng rực là cảm thấy mát mẻ ngay, vì biết là có người...nóng hơn mình. Chưa kể những nụ cười, những câu diễu đặc biệt của mỗi nguời, những biệt hiệu mà Phật tử đặt cho quý thầy, quý cô, đều là những niềm vui nho nhỏ, mà gom lại đã trở thành một niềm phấn khởi lớn. Dĩ nhiên, người bạn gần nhất là người đã chia phòng với mình trong suốt gần một tháng trời đó. Ở với nhau gần một tháng, lúc mệt mỏi, lúc bệnh hoạn, lúc phải cấp bách vội vàng, dễ lộ tẩy "bổn lai diện mục" với nhau lắm. Có những tình bạn hoặc tan vỡ, hoặc khắn khít hơn sau một chuyến đi chung như thế. Tôi may mắn nên được ở chung với má Ðều. Má Ðều là "má" của hầu hết anh chị em trong gia đình Phật tử chùa Khánh Anh, một người "mẹ Việt Nam" đúng nghĩa, rất vui tính, hay đùa hay nhộn, đồng thời rất tế nhị và kín đáo. Tôi muốn lợi dụng diễn đàn này để gởi đến má lời cám ơn chân thành nhất: má đã giúp đỡ tôi rất, rất nhiều trong cả chuyến đi. Tôi muốn nhắc đến những đĩa trái cây mà má đã tranh thủ để mua cho được, trong lúc di chuyển rồi ôm, rồi xách, rồi bới về phòng, gọt vỏ cẩn thận, để ra dĩa cho"nó ăn để nó còn sức mà đi tiếp". Những ly sữa nóng khuấy sẵn chờ đợi dẫu buổi tối tôi ngao du qua phòng các bạn tán gẫu. Không có người bạn đồng hành nào lý tưởng hơn.Trở về trụ xứ, nếu có ai hỏi đi như thế có nghỉ ngơi đuợc không, thì phải kể đến 3 ngày đi du thuyền trên sông Trường Giang, để thưởng thức những cảnh đẹp hùng vĩ của ba eo biển (tam hiệp). Quả là ba ngày thần tiên, ai muốn làm gì thì làm, muốn thức, muốn ngủ bao giờ cũng đuợc, trên một con tàu sang trọng, lộng lẩy. "Nều không đi theo phái đoàn hành hương, thì sức mấy mà đi nổi một chuyến du thuyền như vậy", má Ðều cứ tấm tắc nói.
Nhưng sau chuyến du thuyền là phải trở lại chương trình hành hương, tức là phải khép mình vào kỷ luật, giờ giấc. Trong bữa cơm tối, chú Bảo Lâm hay đi từng bàn đọc một câu thần chú "7 giờ, 7giờ rưỡi, 8 giờ, hành lý để ra ngoài cửa phòng trước 10 giờ", thế là mọi người hiểu ngay ý nghĩa. Câu thần chú ấy thay đổi từng ngày, có khi "6g, 6g rưỡi, 7 giờ" là mọi người than vắn thở dài, còn nếu 7 g rưỡi, 8g, 8 g rưỡi: là thiên hạ reo hò mừng rỡ. Ðó quý vị biết ý nghĩa của câu thần chú ấy là gì?
Nói lại vấn đề nghỉ ngơi, thì mục đích của sự đi hành hương không phải để nghỉ ngơi. Di chuyển nhiều, thay đổi chỗ ngủ mỗi đêm, và tranh thủ để đi viếng nhiều chỗ cho đáng đồng tiền bát gạo, cuối cùng ai cũng mệt mỏi. Nhưng nếu định nghĩa hai chữ nghỉ ngơi, không nhật thiết là phải ra biển nằm phơi nắng, mà chính là thay đổi toàn diện cuộc sống bình thường, là sống một cuộc sống hoàn toàn khác để trí não đuợc "đổi khí trời", thì chúng tôi đã đuợc nghỉ ngơi hoàn toàn.
Trong gần một tháng, tất cả những giá trị vẫn được coi trọng trong đời sống hàng ngày, như tiền tài, danh vọng, nhan sắc, v.v... đã bị bỏ quên, không có sự cạnh tranh, không có sự phải gồng mình để tỏ ra mình giỏi hơn, hay hơn, đẹp hơn sự thật vốn dĩ của mình, mà đôi khi trong thị trường "đời" không thể nào tránh khỏi. Như thế cũng đã là một sự thư gãn trí não, tức là một sự nghỉ ngơi rất đáng kể!Bạn đọc có thể đặt câu hỏi: vậy chuyến đi hành hương vừa qua, cảnh nào cũng tuyệt vời, người nào cũng trở nên dễ thương, tốt đẹp thánh thiện hay sao?
Vấn đề cầu xí ở Trung Quốc vẫn là những chuyện khó quên (Lonely Planet đã chẳng cảnh cáo rằng nhiều nơi vẫn chưa được chùi rửa từ thuở triều đại nhà Hán hay sao?). Trong đoàn, cũng có người kỳ khôi, khó chịu, bí xị, trễ nãi, nhưng nghĩ cho cùng, họ cũng có cùng một cái phước được đi hành hương, tức là trong một tiền kiếp nào đó, họ cũng đã gieo phúc đức, đã gần gũi thánh chúng như mình.
Tập suốt đời có lẽ cũng sẽ không được như ngài Ca Diếp, thề nguyện không bao giờ phê bình ai, sợ phê bình phải một vị Bồ Tát hiện thân độ thế. Nhưng nếu nghĩ rằng chúng ta đã từng gieo duyên với nhau để ngaỳ hôm nay cùng mặc áo tràng xám, cùng lễ lạy một pho tượng Phật, một pho tượng Bồ Tá với nhau, thì chắc chắn sẽ còn gặp nhau nữa, sẽ còn tu hành với nhau dài lâu, và điều đó hẳn là quan trọng hơn một vài xích mích, một vài bất đồng nhỏ!Và chuyến hành hương này được hiện hữu là nhờ công đức của từng đó người họp lại, và nếu tôi đuợc tham dự, được thọ hưởng tất cả những niềm vui kể trên, thì tôi phải mang ơn không sót một người nào. Vì thế, để kết thúc bài này, tôi xin gởi đến cho tất cả những ai đã cùng đi chuyến hành hương Trung Quốc 1999 này một lời cám ơn nồng nhiệt, và hy vọng sẽ còn gặp nhau trong những chuyến hành hương khác...
Diệu Hạnh kể
1999