5 - Mă Đầu Quán Âm

Một hôm, Quán Âm Bồ Tát đến chân núi Cửu Hoa Sơn. Cửu Hoa Sơn ở trong địa phận của tỉnh An Huy, sở dĩ mang tên là Cửu Hoa Sơn là v́ dăy núi này có tổng cộng là 9 đỉnh núi, và đỉnh nào cũng giống y như một đóa hoa sen. Chín đỉnh núi đâm vào tận mây xanh, giống như chín đóa hoa sen xanh nở rộ trong không trung. Ngài Quán Âm ngước lên nh́n thắng cảnh núi Cửu Hoa, không khỏi lấy làm ưa thích.

Quán Âm Bồ Tát hoá thành một vị tăng hành cước, thong thả bước lên núi. Mới cất bước, Ngài chợt nghe tiếng tụng kinh. Ngài đưa mắt nh́n th́ thấy trong một thung lũng có một vị tăng Tây Tạng đang ngồi kết già phu, đối mặt vào tường mà tụng Bát Nhă Tâm Kinh một cách thành kính. Nh́n thấy vị tăng Tây Tạng đang tụng Bát Nhă Tâm Kinh, Quán Âm Bồ Tát cảm thấy tâm ḿnh bị chấn động.

Câu mở đầu của Bát Nhă Tâm Kinh là "Lúc Bồ Tát Quán Tự Tại hành Bát Nhă Ba La Mật Đa một cách thâm sâu, quán chiếu thấy năm uẩn là Không, thoát khỏi tất cả mọi khổ ách". Quán Âm, Quán Âm, đó có nghĩa là quán sát âm thanh của tiếng kêu cầu mà t́m đến để cứu khổ. Vị tăng Tây Tạng này ngồi kiết già tụng Tâm Kinh trong thung lũng, chắc hẳn phải có nguyên do ǵ đây. Ông tụng Tâm Kinh, hiển nhiên là muốn cầu nguyện Quán Âm Bồ Tát độ cho thoát khỏi khổ ách.

Ngài Quán Âm nghĩ, hôm nay đến Cửu Hoa Sơn có lẽ là có chút nhân duyên với vị tăng Tây Tạng này chăng, ta nên đến xem lai lịch của vị tăng Tây Tạng này như thế nào ?

Ngài Quán Âm bèn thi triển chút thần thông để nh́n vào quá khứ của vị tăng Tây Tạng.

Th́ ra vị tăng này là hoàng tử của Tân Quốc ở Tây Tạng, tên là Cầu Na Bạt Đà. Sinh ra là đă có túc căn, từ nhỏ đă chán ghét mọi điều thế tục vinh hoa, về sau c̣n thẳng thừng ĺa bỏ vương cung, trốn thành đi tu. Ngài rất thông minh, trí huệ sâu sắc, căn cơ giác ngộ rất cao, nghiên cứu đến chỗ thâm áo của kinh điển Phật giáo, công phu tu hành tinh chuyên, chẳng bao lâu làu thông tam tạng, thâm nhập Đại thừa.

Ngài phát đại nguyện hoằng dương Đại Thừa Phật giáo ở Trung độ (Trung Hoa), nên vừa đi vừa khất thực hướng về phía đông, vào đến nội địa Trung quốc, giảng Hoa Nghiêm kinh cho dân chúng ở Trung độ, nhưng có biết đâu, v́ ngài không biết nói tiếng Trung Hoa nên khi ngài tuyên giảng Hoa Nghiêm Kinh chả ai nghe hiểu ngài muốn nói ǵ cả, khiến cho ngài đau ḷng và xấu hổ, bèn trốn vào núi Cửu Hoa đối diện với vách tường tĩnh tọa, hy vọng được Ngài Quán Âm giúp đỡ bằng cách đến chỉ giáo cho ḿnh. Vừa khéo đúng lúc ấy ngài Quán Âm đến Cửu Hoa Sơn và biết được chuyện của ngài. Thấy Cầu Na Bạt Đà thành tâm và cương quyết như thế, Quán Âm Bồ Tát càng thêm tán thán :

- Vị tăng Tây Tạng này thật có quyết tâm, nghị lực kiên cường, nếu ta không đến giúp đỡ ông th́ ai giúp ông bây giờ !

Ngài Quán Âm bèn ẩn thân đi, quyết định đến chỉ dẫn cho vị tăng Tây Tạng.

Lúc trời vừa tối, Cầu Na Bạt Đà vẫn tiếp tục ngồi thiền nhập định như mọi ngày. Bỗng nhiên, ngài thấy trên tường đá trước mặt hiện ra một vùng ánh sáng, ánh sáng chói cả mắt. Một hồi lâu sau, trong vùng ánh sáng ấy hiện ra một đóa hoa sen, và trên hoa sen ấy hiện lên Pháp tướng của Quán Âm Bồ Tát, và ngay trên đầu Bồ Tát có một con ngựa báu xuất hiện.

Cầu Na Bạt Đà nh́n Pháp tướng của Quán Âm Bồ Tát, thấy Bồ Tát thật sự đến bên ḿnh, trong ḷng vừa mừng rỡ vừa kinh ngạc vạn phần, vội vàng chắp tay lễ bái, khấu đầu cảm tạ, đem tâm sự của ḿnh ra bạch với Bồ Tát và cầu xin Bồ Tát khai thị, chỉ dẫn cho ḿnh phải làm sao. Quán Âm Bồ Tát từ bi nh́n Cầu Na Bạt Đà nhưng không nói lời nào, khuôn mặt lộ vẻ tươi cười, sau Ngài nhè nhẹ ngước lên, th́ thấy trên đầu Ngài con ngựa báu đang dậm bốn vó, rồi chạy trong không trung không ngừng. Pháp tướng của Quán Âm Bồ Tát lập tức biến mất.

Cầu Na Bạt Đà nh́n ngựa báu hốt nhiên đại ngộ, nghĩ rằng Bồ Tát để cho ngựa chạy không ngừng trong không trung phải chăng là để chỉ đạo cho ta một cách rơ ràng, rằng muốn thông thạo tiếng Trung hoa, phải làm như con ngựa báu tức là chạy không ngừng, chu du bốn phương và chuyên tâm học hành ? Phải rồi, ta phải lập tức ĺa bỏ chốn thâm sơn này, đến đại địa của Trung độ. Hôm sau Cầu Na Bạt Đà xuống núi.

Xuống núi rồi ngài đi vân du ở khắp nơi, quan sát và học tập một cách nghiêm chỉnh. Sau 9 năm bôn ba gian khổ, ngài đă thông thạo tiếng Hán, nhờ thế ngài thực hiện được nguyện ước của ḿnh nghĩa là tuyên giảng Đại thừa Phật Pháp ở Trung độ một cách sâu rộng, mọi người đă có thể hiểu lời của ngài để tin phục và lănh hội, Phật Pháp đại thừa cuối cùng rồi cũng được lưu hành ở Trung độ.

Sau 9 năm, Cầu Na Bạt Đà lên núi Cửu Hoa trở lại, tới chỗ mà năm nào ḿnh đă đối diện với vách đá tĩnh tọa và được Quán Âm Bồ Tát đến chỉ đạo, xây lên một cái miếu Quán Âm nhỏ, trong đó khắc một pháp tượng của Bồ Tát Quan Âm, pháp tượng này không khác ǵ những pháp tượng khác nhưng chỉ có điều là ở trên đầu Ngài có một con ngựa báu, v́ thế người sau gọi h́nh tướng này là "Quán Âm nhiều đầu" hay là "Mă Đầu Minh Vương", cũng lại tôn xưng là giáo chủ của súc sinh.

Nhưng khi pháp tượng Ngài Quán Âm được khắc xong th́ có một số tín đồ địa phương cảm thấy thắc mắc, bảo rằng :

- Một bức tượng Bồ Tát Quán Âm đẹp như thế mà trên đầu lại có thêm một con ngựa, đặt súc sinh lên trên đầu Bồ Tát có phải là tỏ ra bất kính với Ngài không ?

Thế là mọi người nhao nhao đến chất vấn ngài Cầu Na Bạt Đà.

Cầu Na Bạt Đà kể lại cho đại chúng nghe chuyện chín năm về trước, Ngài Quán Âm đă hiển hóa lên con ngựa báu chạy trong không trung để chỉ đạo cho ḿnh, rồi nói tiếp :

- Chúng sinh chia làm sáu nẻo, phân làm sáu loài, tức là những con đường thiên, nhân, a tu la, súc sinh, ngạ quỷ, và địa ngục. Bồ Tát Quán Thế Âm đại từ đại bi, muốn cứu độ tất cả chúng sinh trong sáu nẻo nên mới hiện ra sáu loại Pháp tướng :

Đường địa ngục khổ nhất, nên Ngài hiện thân Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhăn, tượng trưng cho Đại Bi tướng, truyền rằng đó là giáo chủ của địa ngục ;

Loài súc sinh hùng mạnh hiểm ác, nên Ngài hiện thân Quán Âm Mă Đầu, tượng trưng cho Sư Tử Vô Uư tướng, là giáo chủ của loài súc sinh ;

Đường Tu La đa nghi và hiếu chiến, Ngài hiện thân Quán Âm 11 mặt tượng trưng cho Đại Quang Phổ chiếu tướng, là giáo chủ loài A Tu La ;

Đường Nhân th́ có thể nói theo sự hay lư, nh́n theo sự th́ họ kiêu mạn nên được gọi là Thiên Nhân, nh́n theo lư th́ họ có Phật tính nên được gọi là Trượng Phu, do đó Ngài hiện thân Chuẩn Đề Quan Âm, tượng trưng cho Thiên Nhân Trượng Phu tướng, là giáo chủ của loài người ;

Đường Thiên có Đại Phạm Vương, nên Ngài hiện thân Như Ư Luân Quan Âm, tượng trưng cho Đại Phạm Thâm Viễn tướng, giáo chủ loài Thiên. (*)

Ngoài sáu tướng này, Quán Âm Bồ Tát c̣n có thể tùy cơ ứng hóa mà biến đủ các loại h́nh tướng khác nhau. Quán Âm thập nhất diện có mười một mặt, ba mặt ở giữa là mặt của Bồ Tát, ba mặt bên trái hung bạo giận dữ, ba mặt bên phải giống như mặt Bồ Tát tuy từ bi hoà ái giống ba mặt trước, nhưng có răng nanh trắng chĩa lên. Mặt sau là mặt "bạo nộ đại tiếu" (**), và trên đỉnh là mặt Phật. Mỗi mặt có đội mũ báu, trên mũ báu có tượng A Di Đà Phật. Ngài Quán Âm Chuẩn Đề th́ có ba mặt và mười tám cánh tay. Lại c̣n có Như Ư Đà Quan Âm, Lục Tư Kim Thân. Nói tới Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm lại càng khó có thể nghĩ bàn hơn nữa, v́ không có ǵ có thể sánh bằng.

Ngài giảng một cách sinh động cụ thể, nên người nghe ở dưới toà cứ thế mà nhao nhao gật đầu đồng ư. Cầu Na Bạt Đà nói tiếp :

- Bần tăng phát nguyện từ nay trở đi sẽ đi quyên hóa để khắc tôn tượng của sáu Pháp tướng Quán Âm Bồ Tát nói trên. Nếu quư vị phát tâm giúp đỡ th́ thật là công đức vô lượng.

Mọi người vội móc hầu bao giúp đỡ, và cuối cùng sáu tôn tượng Quán Âm Bồ Tát được hoàn thành, người đời gọi là "Lục Quan Âm".

Chú thích :

(*) Tuy nói là có sáu nẻo nhưng trong sách chỉ nói có 5, thiếu đường Ngạ quỷ.

(**) Bạo nộ đại tiếu : Người dịch không hiểu làm sao đă "bạo nộ" (nổi cơn tam bành) mà c̣n "đại tiếu" (cả cườị) được, bèn vào Google t́m chữ Avalokiteshvara xem h́nh Bồ Tát Quán Âm 11 mặt ra làm sao, th́ trong một vài h́nh thấy mặt thứ 10 của Ngài (A Di Đà Phật con xin sám hối) là mặt ác quỷ nhe răng nanh, phải chăng người Trung Hoa cung kính không dám nói "ác quỷ" nên dùng chữ "bạo nộ", và nhe răng trở đành "đại tiếu" ? Xin các bậc cao minh vui ḷng chỉ dạy !


Diệu Hạnh GiaoTrinh